Số liệu chính thức từ các cơ quan Nhà nước về tỷ lệ thu hồi tài sản từ các vụ án tham nhũng đã là quá thấp nhưng ngay bản thân các tài sản do tòa án tuyên bố buộc phải thu hồi cũng chỉ là một tỷ lệ rất nhỏ so với những tài sản “lẽ ra” phải thu hồi trên thực tế bởi sự yếu kém của việc kiểm soát tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn.

Hiện nay, chúng ta mới quan tâm nhiều đến việc kiểm soát việc kê khai tài sản thu nhập của cán bộ, công chức mà chưa thực sự quan tâm đến việc kiểm soát tài sản của những người này. Điều đó có nghĩa rằng, pháp luật mới chỉ quan tâm nhiều đến việc kê khai tài sản có đủ không, có đúng đối tượng không, có được tổ chức đúng quy định không, có kịp thời hạn không… Cũng không ngạc nhiên khi trong các báo cáo luôn cho những con số ấn tượng: Gần như 100% các Bộ, ngành, địa phương đã kê khai đúng, đủ và kịp thời nhưng cái đáng quan tâm hơn cả là sự trung thực trong việc kê khai thì hầu như không kiểm soát được.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

Năm 2016, chỉ có 78/1.113.422 bản kê khai được tiến hành xác minh về tính trung thực và kết quả là05 trường hợp bị kết luận là có vi phạm. Nhưng chế tài xử lý hành vi vi phạm trong việc kê khai tài sản dường như không đủ sức răn đe khi hình thứckỷ luật cao nhất chỉ là cách chức.Chưa hề có việc tài sản của những người bị coi là kê khai không trung thực được đụng đến, khối tài sản “sừng sững” mà dường như pháp luật đang bất lực đứng nhìn. Điều đó cho thấy nhận định việc kê khai tài sản của chúng ta hiện nay “mang nặng tính hình thức” qua tổng kết Nghị quyết Trung ương 3 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí và 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng là hoàn toàn chính xác.

Vướng mắc từ đâu và giải pháp nào cho vấn đề này?Dưới đây là 6 vấn đề chủ yếu:

Thứ nhất, về đối tượng kê khai tài sản

Theo quy định của pháp luật hiện hành, có thể thấy số lượng những người kê khai là rất lớn và trong số đó có những đối tượng không thực sự cần thiết. Hơn 1 triệu bản kê khai tài sản đối với những người có chức vụ từ phó phòng cấp huyện trở lên và tương đương (phụ cấp trách nhiệm là 0,2), cũng có một số chức danh khác nữa. Đó là con số quá lớn mà chúng ta khó bảo đảm được tính trung thực của những người kê khai. Về lý thuyết, bất kể ai có chức vụ, quyền hạn đều có nguy cơ tham nhũng và cần phải được kiểm soát nhưng không phải vì vậy mà chúng ta cần phải và có thể kiểm soát tất cả một cách có hiệu quả.

Thử lấy một đối tượng cụ thể là hiệu trưởng các trường phổ thông để phân tích. Đối với các thành phố, đô thị lớn, nơi mà tình trạng chạy trường, chạy lớp diễn ra phổ biến, khi mà tiền chạy vào những trường điểm, lớp chọn phải tính bằng ngoại tệ mạnh, khi mà tình trạng dạy thêm, học thêm diễn ra tràn lan không thể kiểm soát thì thu nhập của các thầy cô, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo quản lý ở những nơi đó là rất lớn. Ngược lại, một hiệu trưởng trường học ở vùng sâu, vùng xa, những nơi đời sống hết sức khó khăn lại thường xuyên chịu thiên tai, các thầy cô phải chia sẻ cả đồng lương ít ỏi của mình cho bữa ăn của các em có thêm miếng thịt, rồi cả việc phải vào từng nhà vận động các em đến lớp thì mới thấy việc buộc họ phải kê khai tài sản, thu nhập là thực sự không cần thiết!

Vậy nên, việc đầu tiên cần làm là thu hẹp đối tượng kê khai cho thật đích đáng, có trọng tâm, trọng điểm đúng như tinh thần của Nghị quyết Trung ương 3 theo phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, nhấn mạnh về tinh thần gương mẫu theo Quyết định 85 của Bộ Chính trị. Sự nghiêm túc, gương mẫu của cấp trên chắc chắn sẽ có sức lan tỏa rất lớn và hiệu quả của việc kê khai tài sản, thu nhập vì thế sẽ tăng lên rõ rệt.

Thứ hai, về việc kê khai tài sản của những người thân của người có nghĩa vụ kê khai

Có một lỗ hổng rất lớn mà chúng ta đều nhìn thấy trong hệ thống quy định hiện hành, đó làngười có nghĩa vụ kê khai chỉ phải kê khai phần tài sản của mình, vợ hoặc chồng mình và con chưa thành niên. Vậy thì việc tuồn tài sản bất chính của quan chức cho những người khác, trước hết là con thành niên, họ hàng, thậm chí cả vợ bé, bồ nhí như 1 đại biểu Quốc hội lo ngạilà hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, việc buộc người có chức vụ, quyền hạn kê khai những tài sản của người thân trong gia đình sẽ không khả thi khi mà tài sản đó không thuộc sở hữu của họ.

Hãy hình dung, một người có nghĩa vụ kê khai yêu cầu tất cả những người thân trong gia đình (anh chị em, con đã thành niên, thậm chí là họ hàng) phải cho họ thông tin về tài sản của những người này, thì sẽ khó khăn đến mức nào, nhất là tâm lý người Việt Nam không muốn nhiều người biết đến tài sản của cá nhân mình. Thậm chí, có buộc công chức phải kê khai tài sản 3 đời như sáng kiến của một vị tướng trên Quốc hội đi chăng nữa thì người có tài sản vẫn có thể nhờ vả người khác ngoài dòng họ đứng tên và rồi pháp luật cũng chỉ đứng ngoài bất lực.

Điều đó cho thấy,muốn thực sự kiểm soát được tài sản của công chức phải có biện pháp toàn diện, từ việc chống rửa tiền đến việcquản lý sự dịch chuyển của tài sản, tiền bạc, với nghĩa kiểm soát cả nơi đi và nơi đến, kiểm soát cả công chức và toàn xã hội thông qua các công cụ quản lý (thuế, đăng ký tài sản, chuyển tiền qua hệ thống tài khoản…).

Các biện pháp này đỏi hỏi phải tính toán toàn diện, đồng bộ, cần có thời gian và cả những điều kiện hạ tầng kỹ thuật chứ không thể chỉ trông cậy vào những quy định về kê khai tài sản của Luật Phòng, chống tham nhũng.

Thứ ba, về thu nhập thực tế và tiền lương củacán bộ, công chứccòn có khoảng cách khá lớn

Tài sản bắt nguồn từ thu nhập. Trong khi đó, khác với hầu hết các nước trên thế giới, thu nhập đồng nghĩa với tiền lương thì ở Việt Nam, lương công chức chỉ là một phần của thu nhập.Mức lương cao nhất ở nước ta hiện nay là không quá 16 triệu, với đồng lương đó thì bất cứ ai có tài sản có giá trị cũng có thể bị đặt dấu hỏi. Thực tế thì hoàn toàn khác. Đồng lương hiện nay đối với nhiều người dường như chỉ là khoản thu ổn định nhưng là tối thiểu trong tổng thu nhập, thậm chí, có thể nói rằng đã là công chức nhà nước thì “không làm gì cũng có lương”.

Các công việc dù trong khuôn khổ nhiệm vụ cũng đều có cơ hội mang lại những khoản “bổ sung” cho nguồn thu nhập của công chức. Đơn giản như tiền họp. Một lãnh đạo cấp sở của một thành phố lớn tính trung bình một tháng có đến trên dưới 40 cuộc họp! Rồi đủ thứ việc phát sinh, mà việc nào cũng có thù lao, thêm thu nhập, như: Tham gia hội thảo, hội nghị, dự án, đề án, giảng dạy, thành viên hội đồng…

Đó là chưa kể những khoản thu nhập khác mà có sự không công bằng ngay giữa các ngành nghề do chính sách về thâm niên, phụ cấp nghề, trích lại từ các khoản thu (thuế, hải quan, hoạt động kiểm tra xử  lý vi phạm, thanh tra…) được sử dụng dưới hình thức tăng thu nhập hay thưởng vào các dịp lễ, Tết… Tất cả những khoản thu nhập đó thường không được thể hiện trong bảng lương hàng tháng và hầu hết là được nhận là “tiền tươi, thóc thật”.

Ngoài ra, sự lên xuống trồi trụt của thị trường bất động sản, chứng khoán và cả những lĩnh vực khác nữa là cơ hội để tất cả mọi người tham gia và kiếm lợi, mà gần như không có bất kỳ sự kiểm soát nào do các thiết chế quản lý kinh doanh trong nhiều lĩnh còn yếu kém.

Giải pháp cho vấn đề này là hãy kiểm soát mọi thunhập của công chức trước hết là nguồn từ ngân sách theo nguyên tắc mọi khoản chi cho công chức từ ngân sách, kể cả 100 nghìn tiền họp, cũng phải được chuyển khoản.Mỗi công chức có thể có nhiều tài khoản nhưng phải có một tài khoản để nhận mọi khoản thu nhập từ ngân sách. Làm như vậy chúng ta dễ dàng có ngay một hình dung đáng tin cậy về thu nhập của công chức nói chung và người có chức vụ, quyền hạn nói riêng. Những khoản thu khác của công chức như tham gia kinh doanh, góp vốn, mua đi bán lại bất động sản, cổ phiếu… sẽ được quản lý bằng cơ quan thuế (thuế kinh doanh, thuế thu nhập…) và cơ quan quản lý khác. Chừng nào chúng ta chưa kiểm soát được nguồn thu nhập (đầu vào) thì khó có thể nói đến việc kiểm soát có hiệu quả tài sản của công chức.

Thứ tư, về việc truy nguyên nguồn gốc tài sản và trách nhiệm giải trình tài sản tăng thêm

Cần truy nguyên nguồn gốc tài sản để tịch thu những tài sản không được giải trình hợp lý.Đây là ý kiến của một vị đại biểu Quốc hội và cũng là điều mong muốn của nhiều cử tri trong cả nước. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khó khăn nhất hiện nay.

Trước hết, có thể thấy đây là hệ quả đương nhiên của vướng mắc nói trên,do không thể kiểm soát được nguồn thu nhập sẽ dẫn đến không thểtruy nguyên nguồn gốc tài sản, nhất là đối với những tài sản lớn là kết quả của cả một quá trình lâu dài với nhiều sự biến động.

Thêm nữa, theo nguyên tắc pháp luật, trách nhiệm chứng minh thuộc về Nhà nước. Người có tài sản không có trách nhiệm chứng minh tính hợp pháp của tài sản mình có mà chính các cơ quan Nhà nước phải chứng minh tài sản đó có nguồn gốc bất hợp pháp nếu muốn tịch thu tài sản đó. Mọi vấn đề đụng chạm đến quyền cá nhân đều phải qua trật tự tư pháp. Sự kiểm soát của cơ quan quản lý qua công tác thanh tra, kiểm tra cũng chỉ có thể thực hiện đối với trách nhiệm của công chức trong việc kê khai tài sản. Vụ thanh tra biệt phủ Yên Bái vừa qua là một ví dụ.

Cũng không phải tự nhiên mà sau khi thảo luận,cân nhắc rất kỹ, Quốc hội chưa chấp nhận tội danh làm giàu bất chính trong lần sửa đổi Bộ luật Hình sự vừa qua, mặc dù Điều 20 Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng có khuyến nghị cũng như một số nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, có quy định về tội danh này. Giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là kiểm soát chặt chẽ hoạt động thực thi quyền lực để ngăn chặn sự lợi dụng quyền lực mà vụ lợi, chiếm đoạt tài sản trước khi nó vào túi kẻ tham nhũng. Khi nó đã trở thành tài sản cá nhân thì việc tịch thu hay thu hồi chỉ có thể thực hiện bằng con đường tư pháp vốn hết sức khó khăn và phức tạp.

Thứ năm, về công khai bản kê khai tài sản nhằm phát huy sự giám sát của xã hội đối với tài sản của người có chức vụ, quyền hạn

Một trong những kênh kiểm soát quyền lực nói chung và tài sản của công chức nói riêng chính là từ phía xã hội, trong đó, báo chí và người dân là lực lượng chủ yếu. Đây là điều mọi người đều thừa nhận và thực tế vừa qua cho thấy chính báo chí và công luận, kể cả mạng xã hội, đã góp phần phanh phui những khối tài sản khổng lồ, giúp cơ quan Đảng và Nhà nước đưa ra ánh sáng và xử lý người vi phạm.

Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rất sâu sắc về việc phát huy vai trò của người dân, xã hội trong cuộc chiến khó khăn này và Kết luận 21 ngày 25/5/2012 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 đã yêu cầu công khai bản kê khai tài sản của công chức tại nơi cư trú và nơi làm việc.

Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta mới chỉ làm được một phần nhỏ, tức là chỉ công khai tại nơi làm việc với yêu cầu là mọi người trong cơ quan, tổ chức đơn vị biết như quy định tại Nghị định 78/NĐ/CP.

Vì sao chúng ta chưa thực hiện được việc công khai rộng rãi hơn?

Một là, về mặt kỹ thuật, với một số lượng bản kê khai tài sản quá lớn như hiện nay thì việc công khai tại nơi cứ trú là điều không hề đơn giản. Công khai ở đâu? Hình thức như thế nào? Ai là người thực hiện? Chi phí sẽ là bao nhiêu để công khai hơn một triệu bản kê khai?...

Thứ hai, quan trọng hơn là sự lo ngại về việc bảo đảm an toàn cho người có tài sản cả về tinh thần và vật chất. Việc bất kỳ một người nào đó biết được tài sản công chức sẽ có thể dẫn đến nguy cơ sử dụng thông tin đó với dụng ý xấu hay vào việc bất minh. Chẳng hạn,kẻ xấu sẽ dễ dàng đưa thông tin không đầy đủ, mập mờ gây nghi ngờ trong dư luận về sự thiếu liêm chính của người có tài sản hoặc tệ hơn nữa là thực hiện hay tổ chức thực hiện các hành vi phi pháp để chiếm đoạt tài sản đó. Đây là lo ngại có cơ sở trong điều kiện an trật tự an toàn xã hội ở nước ta chưa được bảo đảm. Những khó khăn này cần được nghiên cứu để có giải pháp trong thời gian tới. Định hướng chung về giải pháp cho vấn đề này là thực hiện quyền tiếp cận của công dân đối với thông tin về tài sản của cán bộ công chức nhưng có sự kiểm soát việc sử dụng thông tin đó, được thực hiện bởi một cơ quan có tính chất chuyên trách.

Thứ sáu, về cơ quan thực hiện việc kiểm soát tài sản thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

Có thể nói, việc kiểm soát tài sản thu nhập hiện nay thiếu tính chuyên nghiệp. Có quá nhiều chủ thể tham gianhưng lại không có cơ quan đầu mối và đây lạilà nguyên nhân dẫn đến việc kiểm soát không mang lại hiệu quả mong muốn.

Việc kê khai mang nặng tính hình thức một phần quan trọng là chúng ta thiếu một tổ chức có trách nhiệm chính. Tình trạng phổ biến là người có trách nhiệm nhận bản kê khai (thường là một cán bộ trẻ trong đơn vị quản lý cán bộ) không có thời gian và cũng không đủ chuyên môn để có thể đọc, đánh giá và phát hiện những điều bất hợp lý trong các bản kê khai. Số lượng bản kê khai quá lớn cũng là yếu tố khiến cho họ không thể thực hiện công việc này. Việc tiến hành xác minh lại quá phức tạp dẫn đến số bản kê khai được xác minh là rất ít (cần phải có căn cứ theo luật định, có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, có quyết định xác minh rồi xác định cơ quan tiến hành xác minh…).

Thêm nữa, xác minh tài sản của một cá nhân là vấn đề không đơn giản, đòi hỏi người xác minh phải có nghiệp vụ, thậm chí là các biện pháp nghiệp vụ điều tra, thu thập thông tin bí mật…

Điều này chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta có một cơ quan hay đơn vị chuyên trách, từ việc tiếp nhận và rà soát bản kê khai đến việc thẩm tra xác minh trong mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức liên quan đến quản lý các loại tài sản, thu nhập(thuế, đăng ký bất động sản). Cơ quan này phải được quyền chủ động đánh giá và tiến hành xác minh khi có nghi ngờ về tính trung thực trong các bản kê khai tài sản và khi cần thiết đề nghị cơ quan điều tra vào cuộc. Đây cũng là nơi mà người dân có thể tiếp cận thông tin về tài sản công chức một cách có kiểm soát và nơi người dân phản ánh về sự bất bình thường về tài sản của công chức để giúp chocơ quan Nhà nước phát hiện ra những sự thiếu minh bạch trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập của công chức./.

TS. Đinh Văn Minh

Viện trưởng Viện Khoa học Thanh tra