Mặc dù tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai có xu hướng giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn so với các khiếu nại khác (khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn chiếm hơn 60% các vụ việc khiếu nại, tố cáo; trong đó, tại Bộ Tài nguyên và Môi trường thường chiếm đến hơn 95% số đơn thư nhận được), tiềm ẩn phức tạp, nhiều vụ việc đông người, khiếu kiện gay gắt, nhiều lần tập trung đông người tại các cơ quan Trung ương ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các vụ việc đông người, phức tạp chủ yếu là khiếu nại liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình, dự án phát triển kinh tế, xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, trung tâm thương mại, xây dựng chợ, tập trung vào giá bồi thường thấp, mất hết đất sản xuất mà không chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm mới; đòi lại đất đã đưa vào nông lâm trường; tố cáo cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai… Phần lớn các vụ việc khiếu nại đông người, có tính chất phức tạp, bức xúc là những vụ việc phát sinh chủ yếu từ những năm trước đây, chưa được giải quyết dứt điểm, nhưng cũng có những vụ việc đã xem xét, giải quyết nhiều lần, đảm bảo đúng pháp luật nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại kéo dài.

Qua thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thoại Sơn trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thời gian qua cho thấy có những bất cập như sau:

Về thời gian thụ lý khiếu nại: Điều 27 của Luật Khiếu nại năm 2011 quy định là "10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền", trong khi đó Điều 5 Thông tư số 07/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính lại quy định "10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền"; như vậy, giữa Luật và Thông tư có sự không thống nhất về thời gian thụ lý khiếu nại, cần phải xem xét điều chỉnh cho thống nhất.

Về vấn đề rút khiếu nại: Điều 10 Luật Khiếu nại 2011 quy định "Người khiếu nại có thể rút khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại; việc rút khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại; đơn xin rút khiếu nại phải gửi đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khi nhận được đơn xin rút khiếu nại thì đình chỉ việc giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại về việc đình chỉ giải quyết khiếu nại".

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Như vậy, khi người khiếu nại rút đơn khiếu nại trong giai đoạn chưa ban hành thông báo thụ lý giải quyết khiếu nại thì có đình chỉ giải quyết khiếu nại hay không? Và nếu không ban hành văn bản đình chỉ giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại đổi ý tiếp tục khiếu nại thì có thụ lý hay không? Đây là những vấn đề chưa được quy định rõ ràng trong pháp luật về khiếu nại.

Về thời hạn giải quyết khiếu nại: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Qua thực tế cho thấy, đối với vụ việc khiếu nại về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thông thường không đảm bảo thời hạn giải quyết theo luật định, do giai đoạn từ khi tiếp nhận giao thụ lý đến các khâu trong quá trình xác minh, thu thập tài liệu, trưng cầu ý kiến cơ quan chuyên môn, thông qua hồ sơ, tổ chức đối thoại… mất rất nhiều thời gian, đặc biệt là việc cơ quan tham mưu xác minh không chủ động được về thời gian, phải chờ sắp xếp lịch để tổ chức các cuộc họp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.

Việc trưng cầu giám định: Luật Khiếu nại năm 2011 quy định trưng cầu giám định là một trong những nội dung xác minh chỉ thực hiện khi cần thiết. Tuy nhiên, trong trường hợp phải trưng cầu giám định thì chưa đề cập đến thủ tục trưng cầu, kinh phí thực hiện và thủ tục thanh toán.

Việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật: Hiện nay, chưa có quy định cụ thể của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Trong khi chờ hướng dẫn của cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 102/2017/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 về việc ban hành Quy định công tác thi hành quyết định có hiệu lực pháp luật trong quản lý đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh An Giang. Tuy nhiên, việc thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ sở pháp lý vững chắc, thống nhất, nhất là về tổ chức được phân công nhiệm vụ thi hành quyết định.

Việc người dân ít khởi kiện vụ án hành chính và cố tình đeo bám khiếu nại mặc dù đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng: Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố tụng Hành chính cho phép người dân được khởi kiện ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết khiếu nại. Nhưng thực tế cho thấy người dân hầu như rất ít khi khởi kiện vụ án hành chính mà chủ yếu khiếu nại lần hai tại Ủy ban nhân dân tỉnh, nhiều trường hợp sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai nhưng không đồng ý thì tiếp tục đeo bám các cơ quan Trung ương tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Một số trường hợp đã có kết luận của cơ quan Trung ương như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Chính phủ và kể cả kết luận của Thủ tướng Chính phủ khẳng định việc giải quyết khiếu nại của cấp tỉnh đã đúng pháp luật nhưng người dân vẫn tiếp tục khiếu nại với mong muốn qua vụ việc gây áp lực sẽ được xem xét giải quyết thêm về quyền lợi. Điều này gây rất nhiều khó khăn và cấp huyện, tỉnh rất lúng túng trong việc tìm ra phương án tối ưu để chấm dứt việc khiếu nại của người dân.

Việc khiếu nại hành vi vi phạm: Trên thực tế, có rất nhiều hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại liên quan đến người giải quyết và những người có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, việc xử lý đối với các hành vi này rất khó khăn, vì tại Điều 67, 68 Luật Khiếu nại năm 2011 chỉ mới xác định đối tượng có hành vi vi phạm và nguyên tắc chung về xử lý hành vi, không có chế tài, thiếu căn cứ, cơ sở pháp lý cụ thể để xử lý; thực tiễn tại huyện Thoại Sơn trong những năm qua cũng chưa có hành vi vi phạm hành chính nào được ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Khi có đơn của người khiếu nại thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chỉ xem như là đơn kiến nghị, phản ánh về thực hiện nhiệm vụ công vụ của công chức, viên chức và tiến hành rà soát, nhắc nhở, chấn chỉnh chứ không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, cho nên cũng không có quyết định giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính.

Có thể nói khiếu nại liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong thời gian qua đã có những chuyển biến theo hướng tích cực, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai và đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ, kịp thời và đặt trong mối quan hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy nhận thức, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đảm bảo nguồn nhân lực và cơ sở vật chất cho công tác giải quyết khiếu nại về đất đai và các giải pháp hỗ trợ khác. Qua những phân tích trên, để công tác giải quyết khiếu nại nói chung, giải quyết khiếu nại trong quá trình Nhà nước thu hồi đất nói riêng đạt hiệu quả, chúng tôi kiến nghị một số nội dung sau:

Thứ nhất, để bảo đảm sự thống nhất về hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật, cần điều chỉnh Thông tư số 07/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ theo hướng quy định thời gian thụ lý khiếu nại thống nhất là "10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền" theo đúng quy định của Điều 27 Luật Khiếu nại. Việc quy định này còn mang ý nghĩa không những nâng cao tinh thần trách nhiệm của phía cơ quan giải quyết khiếu nại trong việc giải quyết tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, mà còn phù hợp với chủ trương hiện nay của Đảng và Nhà nước trong việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, trong giai đoạn đẩy mạnh cải cách hành chính mà đặc biệt là cải cách về thủ tục hành chính như hiện nay, đòi hỏi việc giải quyết khiếu nại phải được xem là thủ tục hành chính và được thực hiện theo cơ chế một cửa, do đó nên bổ sung quy định cụ thể về vấn đề này.

Thứ hai, Luật Khiếu nại cần quy định rõ trong trường hợp rút đơn khiếu nại trong giai đoạn chưa ban hành thông báo thụ lý giải quyết khiếu nại thì cơ quan nhận đơn ra thông báo trả lại đơn; đồng thời, quy định rõ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo trả lại đơn mà người khiếu nại không khiếu nại tiếp thì nếu tiếp tục khiếu nại sẽ không được thụ lý giải quyết.

Thứ ba, về thời hạn giải quyết khiếu nại phải tiến hành khảo sát, nghiên cứu thật kỹ và quy định có tính thực chất, khả thi để khi Luật đã ban hành mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thực hiện không đúng thì có đủ cơ sở vững chắc để áp dụng các biện pháp chế tài, bồi thường thiệt hại do hành vi chậm giải quyết khiếu nại của mình gây ra.

Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính. Theo đó, cho phép người giải quyết khiếu nại được gia hạn thời gian xác minh nhưng không được vượt quá thời hạn giải quyết khiếu nại. Quy định như Thông tư số 02/2016/TT-TTCP vẫn chưa giải quyết được khó khăn về thời hạn giải quyết khiếu nại. Đồng thời, kiến nghị Luật Khiếu nại cần bổ sung quy định trong một số trường hợp đặc biệt thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được gia hạn thời hạn giải quyết một lần không quá 30 ngày như trong trường hợp khiếu nại đông người, việc giải quyết khiếu nại phải trưng cầu giám định…

Thứ tư, Thanh tra Chính phủ nên xem xét kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại năm 2011, theo hướng bổ sung một chương riêng quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

Thứ năm, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến đến người dân pháp luật về tố tụng hành chính để nâng cao nhận thức của người dân về giải quyết tranh chấp hành chính thông qua Tòa án. Bên cạnh đó, các cơ quan Trung ương khi nhận được đơn của người dân đối với vụ việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai, sau khi đã trao đổi, thống nhất với Ủy ban nhân dân tỉnh, ban hành thông báo chấm dứt giải quyết khiếu nại thì phải cương quyết không nhận và chuyển đơn, tránh tình trạng để người dân hy vọng, cầm văn bản chuyển đơn xem như là văn bản chỉ đạo giải quyết và tiếp tục khiếu nại không có điểm dừng.

Thứ sáu, tại Chương 3 Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 và Khoản 2 Điều 5 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ có quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận đơn, thông báo thụ lý đơn các trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung, nhưng không có quy định và hướng dẫn về việc ban hành quyết định giải quyết. Mặc dù trong tài liệu Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại (sử dụng tuyên truyền theo Đề án 1-1133) của Thanh tra Chính phủ biên soạn có hướng dẫn: "Đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì người có thẩm quyền phải xem xét, kết luận nội dung khiếu nại và căn cứ vào kết luận đó để ra quyết định giải quyết khiếu nại cho từng người hoặc ra quyết định giải quyết khiếu nại kèm theo danh sách những người khiếu nại". Tuy nhiên, nội dung hướng dẫn này chưa mang tính quy phạm pháp luật, nếu áp dụng thì thiếu cơ sở pháp lý; do đó, đề nghị bổ sung để có căn cứ thực hiện.

Bên cạnh những giải pháp cụ thể liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại trên, chúng tôi cho rằng, để công tác giải quyết khiếu nại lần đầu nói riêng, công tác giải quyết khiếu nại nói chung và đặc biệt là tạo được sự đồng thuận từ nhân dân nhằm hạn chế tình trạng khiếu nại, cần thực hiện đồng bộ các vấn đề sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; Luật Đất đai; Luật Khiếu nại; Luật Tiếp công dân; Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện hơn nữa chính sách, pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, pháp luật đất đai, nhất là pháp luật về tố tụng hành chính và các quy định của pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích của người dân, nhằm tạo dựng cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc giải quyết khiếu nại.

Ba là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, trách nhiệm của chính quyền, giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại. Người có thẩm quyền, trách nhiệm phải nắm chắc tình hình, chủ động giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại; xác định nguyên nhân phát sinh khiếu nại; nâng cao chất lượng và giải quyết kịp thời các vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền mới phát sinh.

Bốn là, tổ chức tốt công tác tiếp công dân, triển khai thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp công dân định kỳ, thường xuyên và đột xuất theo quy định của pháp luật. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải bố trí thời gian tiếp công dân, trực tiếp gặp và đối thoại với công dân, kịp thời giải quyết đúng chính sách, pháp luật các vụ việc khiếu nại.

Năm là, Ủy ban nhân dân các cấp chủ động rà soát, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện để có giải pháp xử lý các trường hợp khiếu nại đông người, vượt cấp ngay tại cơ sở, hạn chế tối đa khiếu nại đông người, vượt cấp.

Sáu là, tăng cường quản lý nhà nước về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại; coi trọng và nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, tổ chức và thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước. Kịp thời phát hiện, khắc phục những hạn chế, tồn tại và xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm trong việc tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại; xử lý nghiêm những trường hợp kích động, lôi kéo công dân khiếu nại đông người hoặc lợi dụng việc khiếu nại để gây rối.

Bảy là, tổ chức thi hành nghiêm các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, nhất là những vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và ý kiến, quyết định giải quyết của các Bộ, ngành chức năng của Trung ương. Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu vướng mắc phải chủ động tìm biện pháp giải quyết, nếu vượt quá thẩm quyền phải xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ, ngành Trung ương, không để vụ việc tồn đọng, kéo dài.

Tám là, thường xuyên cập nhật, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, thực hiện đầy đủ chế độ thông tin báo cáo việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại (tập trung ở xã, thị trấn); tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình phối hợp, giám sát và nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo giữa Ban Thường trực Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp, Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sự Việt Nam.

Chín là, Thủ trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước tăng cường và nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý Nhà nước, tập trung chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém trong quản lý nhà nước, chú trọng công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng quá trình xây dựng, ban hành các chính sách, pháp luật, nhất là trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai. Trong công tác quản lý nhà nước phải quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm công dân không bị thiệt thòi do những bất cập của chính sách; công tác quản lý, nhất là trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích công cộng cần phải xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dân chủ, công khai, đúng chính sách, pháp luật, sát thực tế, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất. Trong quá trình thực hiện cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu, đồng thuận, tự giác chấp hành./.

Trần Vang Phủ,

Giảng viên, Khoa Luật - Đại học Cần Thơ

Đặng Văn Liệt,

Phó Chánh Thanh tra huyện Thoại Sơn, Tỉnh An Giang