Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 01/10/2003 tại Trụ sở Liên hợp quốc ở New York. Ngày 10/12/2003, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Công ước và ngày 30/6/2009, Chủ tịch nước đã phê chuẩn Công ước tại Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN.

Nội dung của Công ước không quy định khái niệm về phòng ngừa tham nhũng nhưng dành toàn bộ Chương II quy định về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng mà các quốc gia thành viên cần xây dựng, thực hiện hoặc duy trì. Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2005 của Việt Nam cũng không quy định khái niệm phòng ngừa tham nhũng và cũng dành Chương II quy định về phòng ngừa tham nhũng với 06 nhóm biện pháp. Về cơ bản, nội dung phòng ngừa tham nhũng quy định trong Luật PCTN của Việt Nam có sự tương đồng với quy định về phòng ngừa tham nhũng theo Công ước, đặc biệt là những yêu cầu về phòng ngừa tham nhũng trong khu vực công. Tuy nhiên, một số nội dung như tổ chức cơ quan PCTN, vai trò của xã hội trong PCTN… lại không được quy định trong Chương II của Luật PCTN mà quy định ở những Chương khác, thậm chí có nội dung không được quy định trong Luật PCTN mà quy định ở đạo luật khác như nội dung về phòng, chống rửa tiền quy định trong Luật Phòng, chống rửa tiền. Nhưng để đánh giá việc thực thi Công ước, các nội dung đó vẫn phải được coi là biện pháp phòng ngừa tham nhũng mà Việt Nam đã thực hiện theo quy định của Công ước.

Như vậy có thể hiểu: “Phòng ngừa tham nhũng theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng là việc quốc gia thành viên xây dựng, thực hiện, duy trì các biện pháp được quy định trong Chương II của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng nhằm chủ động khắc phục, ngăn chặn, loại bỏ những nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh, dung dưỡng hành vi tham nhũng; loại trừ hành vi tham nhũng ra khỏi đời sống xã hội và hoạt động của bộ máy nhà nước”. 

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

1. Yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong phòng ngừa tham nhũng

Công ước đã dành Chương II quy định các nội dung về phòng ngừa tham nhũng. Trước hết, để quy định một số nội dung mang tính tổng quát về chính sách và thực tiễn chống tham nhũng, Điều 5 của Công ước đã quy định cho các quốc gia thành viên, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình sẽ xây dựng và thực hiện hoặc duy trì các chính sách chống tham nhũng hiệu quả và đồng bộ, những chính sách thúc đẩy sự tham gia của xã hội và thể hiện các nguyên tắc của chế độ pháp quyền, việc quản lý đúng đắn công vụ và tài sản công, sự liêm khiết, tính minh bạch và trách nhiệm. Đồng thời, mỗi quốc gia thành viên sẽ nỗ lực tạo dựng và tăng cường những thực tiễn hữu hiệu nhằm mục đích phòng ngừa tham nhũng; nỗ lực đánh giá định kỳ các công cụ pháp lý và biện pháp hành chính nhằm xác định xem chúng đã đầy đủ chưa để phòng ngừa và chống tham nhũng. Để bảo đảm cơ chế hợp tác quốc tế trong phòng ngừa tham nhũng, Công ước cũng quy định cụ thể việc các quốc gia khi thấy thích hợp và trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình, các quốc gia thành viên sẽ hợp tác với nhau và với các tổ chức khu vực và quốc tế liên quan trong việc thúc đẩy và xây dựng các biện pháp, nội dung nêu trên. Sự hợp tác đó có thể bao gồm việc tham gia vào các chương trình và dự án quốc tế nhằm phòng ngừa tham nhũng.

Xuất phát từ những yêu cầu chung nêu trên, Công ước đã quy định những yêu cầu cụ thể đối với các quốc gia thành viên, chủ yếu gồm những yêu cầu như:

 - Mỗi quốc gia thành viên đảm bảo việc có một cơ quan hoặc một số cơ quan khi thích hợp, có trách nhiệm thi hành chính sách phòng ngừa tham nhũng; khi thích hợp, giám sát, phối hợp việc thi hành những chính sách đó và nâng cao, phổ biến kiến thức về công tác phòng ngừa tham nhũng. Mỗi quốc gia thành viên sẽ dành cho các cơ quan PCTN nêu trên sự độc lập cần thiết trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình nhằm giúp cho những cơ quan này có thể thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và không chịu bất kỳ sự ảnh hưởng trái pháp luật nào.

- Mỗi quốc gia thành viên Công ước sẽ nỗ lực duy trì và củng cố chế độ tuyển dụng, thuê, giữ lại, đề bạt và hưu trí đối với công chức, và khi thích hợp, đối với cả những công chức không do bầu cử khác, gắn liên với việc thực thi bảo đảm các nguyên tắc hiệu quả, minh bạch và tiêu chí khách quan như năng lực, công bằng và năng khiếu; có quy trình thích hợp để lựa chọn, đào tạo cá nhân vào những vị trí được coi là rất dễ liên quan đến tham nhũng, và khi thích hợp, để luân chuyển các cá nhân đó sang những vị trí khác; khuyến khích việc trả công thỏa đáng và trả lương công bằng, có xét tới mức độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia thành viên; thúc đẩy các chương trình giáo dục và đào tạo công chức nhằm giúp họ đáp ứng được những yêu cầu về tính chính xác, sự chính trực và đúng đắn khi thực hiện công vụ.

- Mỗi quốc gia thành viên sẽ nỗ lực áp dụng, trong khuôn khổ hệ thống pháp luật và thể chế nước mình, những quy tắc hoặc chuẩn mực ứng xử để đảm bảo việc thực hiện chức năng công được chính xác, chính trực và đúng đắn; xem xét đề ra các biện pháp và cơ chế để tạo thuận lợi cho công chức báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền về các hành vi tham nhũng mà họ phát hiện được trong khi thi hành công vụ; báo cáo cơ quan có thẩm quyền về các vấn đề có liên quan trong đó có những hoạt động công việc, các khoản đầu tư bên ngoài hay tài sản hoặc quà tặng giá trị lớn, những thứ mà có thể gây xung đột lợi ích khi họ thực hiện công vụ.

- Mỗi quốc gia thành viên sẽ tiến hành các bước cần thiết để xây dựng được các cơ chế mua sắm phù hợp dựa trên sự minh bạch, cạnh tranh và tiêu chí khách quan trong khâu ra quyết định, giúp phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả… bảo đảm thủ tục thông qua ngân sách quốc gia; Báo cáo kịp thời về thu và chi; Hệ thống các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán và cơ chế giám sát có liên quan; Cơ chế quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ có hiệu quả và hữu hiệu; Khi thích hợp, có biện pháp khắc phục trong trường hợp không tuân thủ những yêu cầu theo quy định; Thực hiện các biện pháp hành chính và dân sự cần thiết đảm bảo sự minh bạch của sổ sách kế toán, chứng từ, báo cáo tài chính hoặc các tài liệu khác có liên quan.

- Các quốc gia thành viên tiến hành các biện pháp cần thiết để tăng cường minh bạch trong quản lý hành chính công, kể cả về tổ chức, quá trình thực hiện và ra quyết định; Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân; Đơn giản hóa thủ tục hành chính ở những khâu thích hợp nhằm tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận với cơ quan có thẩm quyền ra quyết định; Công bố thông tin, trong đó có thể bao gồm báo cáo định kỳ, về nguy cơ tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước.

- Các quốc gia thành viên phải ghi nhớ sự độc lập của cơ quan tư pháp và vai trò quan trọng của cơ quan này trong đấu tranh chống tham nhũng, đồng thời đề ra một số yêu cầu như mỗi quốc gia thành viên sẽ tiến hành các biện pháp tăng cường tính liêm khiết cho cán bộ toà án và phòng ngừa những cơ hội tham nhũng đến với họ; Những biện pháp tăng cường liêm khiết cho cán bộ toà án nêu trên có thể bao gồm việc ban hành bộ quy tắc ứng xử riêng cho cán bộ toà án. Những biện pháp được áp dụng đối với hệ thống toà án cũng đồng thời có thể được ban hành và áp dụng trong cơ quan công tố ở những quốc gia thành viên mà cơ quan công tố không trực thuộc hệ thống toà án, có vị trí độc lập như các cơ quan tư pháp.

- Mỗi quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp để phòng ngừa tham nhũng liên quan đến khu vực tư, tăng cường các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán trong khu vực tư; Thúc đẩy xây dựng các chuẩn mực và thủ tục nhằm bảo vệ sự liêm khiết của các tổ chức tư nhân tương ứng, trong đó có quy tắc ứng xử về tính chính xác, tính chính trực và tính đúng đắn trong hoạt động kinh doanh và tất cả các nghề nghiệp liên quan, đồng thời thúc đẩy công tác phòng ngừa xung đột lợi ích, thúc đẩy nhân rộng các thực tiễn thương mại tốt trong hoạt động kinh doanh và trong quan hệ hợp đồng với quốc gia; Phòng ngừa xung đột lợi ích bằng cách cấm, khi thấy phù hợp và trong một thời gian hợp lý, những người đã từng là công chức thực hiện các hoạt động nghề nghiệp hoặc cấm khu vực tư nhân tuyển dụng công chức vào làm việc sau khi họ đã từ chức hoặc về hưu nếu các hoạt động nghề nghiệp hoặc việc tuyển dụng đó có liên quan trực tiếp đến chức năng mà công chức này đảm nhiệm hoặc giám sát khi còn đương nhiệm.

- Mỗi quốc gia sẽ tiến hành các biện pháp thích hợp nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của các cá nhân và tổ chức ngoài khu vực công, như các tổ chức xã hội dân sự, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng vào công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng; Nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sự tồn tại, nguyên nhân và tính chất nghiêm trọng cũng như sự đe dọa của tham nhũng. Tăng cường sự tham gia của xã hội dân sự trong PCTN; Tiến hành các biện pháp thích hợp đảm bảo công chúng biết đến các cơ quan chống tham nhũng và phải cho phép tiếp cận với các cơ quan này khi thích hợp để công chúng có thể thông báo, kể cả dưới hình thức nặc danh, về bất kỳ sự kiện nào có thể được coi là cấu thành một tội phạm tham nhũng.

- Các quốc gia thành viên trong phạm vi thẩm quyền của mình, thiết lập một cơ chế giám sát và điều tiết toàn diện trong nước đối với các ngân hàng, các định chế tài chính phi ngân hàng, kể cả các cá nhân hay pháp nhân cung cấp dịch vụ chính thức hoặc không chính thức về chuyển tiền hoặc vật có giá trị, và khi thích hợp, cả những cơ quan khác đặc biệt dễ liên quan đến rửa tiền, nhằm ngăn chặn, phát hiện mọi hình thức rửa tiền; cơ chế điều tiết và giám sát này phải nhấn mạnh đến các yêu cầu về xác định khách hàng và cả người sở hữu hưởng lợi khi thích hợp, lưu giữ hồ sơ và báo cáo về các giao dịch đáng ngờ;

Nhìn chung, những yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong phòng ngừa tham nhũng được đề cập với phạm vi rộng, có cả những yêu cầu chung đối với hệ thống pháp luật, việc tổ chức thực thi và cả những yêu cầu rất cụ thể trong những hoạt động quản lý cụ thể, đòi hỏi nỗ lực nội luật hoá và thi hành nghiêm túc của quốc gia thành viên mới có thể đáp ứng được.

2. Mức độ tuân thủ của pháp luật Việt Nam đối với những yêu cầu về phòng ngừa tham nhũng trong Công ước

2.1. Những nội dung pháp luật Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu về phòng ngừa tham nhũng trong Công ước.

Một là, pháp luật của Việt Nam đã cơ bản đáp ứng những yêu cầu chung của Công ước về phòng ngừa tham nhũng

Đối với những yêu cầu quy định tại Điều 5 của Công ước, pháp luật của Việt Nam đã cơ bản đáp ứng và nguyên tắc của chế độ pháp quyền là nguyên tắc xuyên suốt, chi phối hệ thống pháp luật Việt Nam: Các chính sách chống tham nhũng hiệu quả và đồng bộ đã được xây dựng, thực hiện và duy trì (Luật PCTN, Luật Phòng, chống rửa tiền, các văn bản dưới luật quy định chi tiết các biện pháp phòng ngừa tham nhũng…) Chính sách thúc đẩy sự tham gia của xã hội trong PCTN được quy định trong Luật PCTN và cụ thể hoá tại Nghị định số 47/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Việc quản lý đúng đắn công vụ và tài sản công, bảo đảm sự liêm khiết, tính minh bạch và trách nhiệm đều là những trụ cột quan trọng trong Luật PCTN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Cán bộ, công chức… Việt Nam cũng luôn nỗ lực tạo dựng và tăng cường những thực tiễn hữu hiệu nhằm mục đích phòng ngừa tham nhũng; Nỗ lực đánh giá định kỳ các công cụ pháp lý và biện pháp hành chính…

Hai là, Việt Nam đáp ứng yêu cầu của Công ước về xây dựng cơ quan PCTN

Việt Nam thực hiện mô hình nhiều cơ quan có chức năng PCTN, trong đó Thanh tra Chính phủ là đầu mối quản lý nhà nước, có trách nhiệm trực tiếp thi hành nhiều chính sách phòng ngừa tham nhũng, theo dõi, giám sát việc thực hiện trên phạm vi cả nước, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, chức năng khác thực thi các biện pháp phòng ngừa tham nhũng theo chức năng của các bộ, ngành nhằm bảo đảm việc phối hợp thi hành có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Các cơ quan PCTN của Việt Nam được bảo đảm sự độc lập cần thiết trên cơ sở phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan. Pháp luật có các quy định nghiêm cấm việc can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của các cơ quan chức năng PCTN và việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì động cơ cá nhân được coi là hành vi tham nhũng (Điều 3 Luật PCTN). Ngay cả cơ quan thanh tra nhà nước, mặc dù phụ thuộc khá nhiều vào cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp nhưng vẫn được trao quyền độc lập tương đối để bảo đảm thực thi nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng chức năng của mình. Cơ chế đó đã giúp cho các cơ quan PCTN của Việt Nam có thể thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và không chịu bất kỳ sự ảnh hưởng trái pháp luật nào.

Ba là, pháp luật Việt Nam cơ bản bảo đảm các yêu cầu của Công ước về thực thi các biện pháp phòng ngừa tham nhũng khu vực công

Chế độ tuyển dụng, hợp đồng, đề bạt, hưu trí và kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức được triển khai toàn diện với những quy định nhằm bảo đảm các nguyên tắc hiệu quả, minh bạch và năng lực. Đối với những vị trí công tác được coi là rất dễ liên quan đến tham nhũng nhất là các vị trí lãnh đạo, quản lý đều đã có quy trình thích hợp để lựa chọn, đào tạo. Việc luân chuyển công chức sang những vị trí khác sau một thời gian đảm nhiệm công việc cũng đã được quy định và triển khai thực hiện rộng rãi; Việc cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp nhằm khuyến khích việc trả công thoả đáng và trả lương công bằng cũng đã được thực hiện với những đề án tổng thể và quy định cụ thể trong từng thời kỳ, mặc dù còn những bất hợp lý nhất định do mức độ phát triển kinh tế của đất nước.

Các chương trình giáo dục và đào tạo công chức được tổ chức thường xuyên gắn với tiêu chuẩn, điều kiện tuyển dụng, bổ nhiệm công chức, trong đó có những chương trình giảng dạy giúp công chức đáp ứng được những yêu cầu về tính chính xác, sự chính trực và đúng đắn khi thực hiện chức năng công. Đặc biệt là việc đưa nội dung PCTN vào chương trình giáo dục, đào tạo bồi dưỡng với mức độ chuyên sâu tùy theo từng loại hình, đối tượng đào tạo đã giúp tăng cường nhận thức của công chức về nguy cơ tham nhũng gắn với việc thực thi nhiệm vụ của mình. Trong các ngành, lĩnh vực đều xây dựng quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức và thường xuyên quán triệt để bảo đảm tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Bốn là, pháp luật Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của Công ước về Quy tắc ứng xử của công chức.

Quy tắc ứng xử của công chức trong các ngành, lĩnh vực đã được ban hành nhằm thúc đẩy sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong đội ngũ công chức. Trong các quy tắc ứng xử đều có các quy định để đảm bảo việc thực hiện chức năng công được chính xác, chính trực và đúng đắn như nêu rõ những điều cán bộ, công chức được làm, không được làm. Cơ chế tạo thuận lợi cho công chức báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền về các hành vi tham nhũng mà họ phát hiện được trong khi thi hành công vụ đã được quy định đầy đủ, thậm chí pháp luật Việt Nam đặt đây là trách nhiệm của công chức. Nếu không báo cáo còn bị xử lý theo quy định của pháp luật. Pháp luật Việt Nam cũng đã quy định công chức có trách nhiệm kê khai các khoản đầu tư bên ngoài hay tài sản có giá trị lớn, đồng thời có cơ chế xem xét áp dụng các biện pháp kỷ luật hoặc các biện pháp khác đối với những công chức vi phạm quy tắc ứng xử hoặc những chuẩn mực đạo đức công vụ đã được xây dựng.

Năm là, pháp luật Việt Nam cơ bản đáp ứng yêu cầu của Công ước về phòng ngừa tham nhũng trong mua sắm công và quản lý tài chính công

Các quy định của pháp luật về mua sắm tài sản, tổ chức đấu thầu mua sắm nhằm bảo đảm minh bạch, cạnh tranh và khách quan đều đã được thiết lập. Những yêu cầu như: Thông báo công khai về thủ tục mua sắm và hợp đồng mua sắm, công khai thông tin về mời thầu và thông tin thích hợp có liên quan về trao thầu, để các nhà thầu tiềm năng có đủ thời gian để chuẩn bị và nộp hồ sơ thầu đã được quy định; Yêu cầu về tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý tài chính công như: Thủ tục thông qua ngân sách quốc gia; Báo cáo kịp thời về thu và chi; Hệ thống các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán, và cơ chế giám sát cũng đã được quy định; Cơ chế quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ có hiệu quả và hữu hiệu; Khi thích hợp, có biện pháp khắc phục trong trường hợp không tuân thủ những yêu cầu theo quy định. Pháp luật Việt Nam cũng đã có quy định để xử lý cụ thể, cả về dân sự, hành chính trong trường hợp sự minh bạch của sổ sách kế toán, chứng từ, báo cáo tài chính hoặc các tài liệu khác có liên quan không được đảm bảo.

Sáu là, pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu của Công ước về báo cáo công khai và tiếp cận thông tin

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công khai, minh bạch là yêu cầu trọng tâm trong quản lý hành chính công, kể cả về tổ chức, quá trình thực hiện và ra quyết định. Quyền tiếp cận thông tin của người dân được bảo đảm (Luật Tiếp cận thông tin, Luật PCTN). Quy định về trách nhiệm giải trình (Luật PCTN, Nghị định 90/2013/NĐ-CP cho phép công chúng có được thông tin về tổ chức, quá trình thực hiện và ra quyết định của các cơ quan hành chính nhà nước, cũng như các thông tin về quyết định và hành vi pháp lý liên quan đến công chúng mà vẫn đảm bảo được bí mật và thông tin cá nhân; thủ tục hành chính được đơn giản hoá trên tất cả các lĩnh vực, tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận với cơ quan có thẩm quyền ra quyết định; các báo cáo định kỳ về PCTN như báo cáo hàng năm trước Quốc hội đều được công khai, nhiều năm được báo cáo công khai, truyền hình trực tiếp để công chúng theo dõi.

Bảy là, các yêu cầu của Công ước về phòng ngừa tham nhũng trong hoạt động truy tố và xét xử đều được bảo đảm.

Sự độc lập, chỉ tuân theo pháp luật khi công tố, xét xử là nguyên tắc quan trọng đã được pháp luật Việt Nam quy định. Các biện pháp tăng cường tính liêm khiết như phụ cấp nghề (dưỡng liêm) đã được áp dụng đối với các cơ quan chức năng PCTN; cơ chế kiểm soát nội bộ, kiểm tra, giám sát góp phần phòng ngừa những cơ hội tham nhũng đến với cán bộ, công chức trong cơ quan công tố, xét xử; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều đã ban hành quy tắc ứng xử riêng cho cán bộ trong ngành.

Tám là, pháp luật Việt Nam đã bảo đảm nhiều yêu cầu của Công ước về sự tham gia của xã hội trong PCTN.

Vai trò của các cá nhân và tổ chức ngoài khu vực công, như các tổ chức xã hội, các tổ chức cộng đồng trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng đã được pháp luật Việt Nam quy định; Việt Nam cũng đã nỗ lực thực hiện các biện pháp đề cao vai trò, trách nhiệm và tăng cường sự tham gia của xã hội trong PCTN; nhân dân được tham gia xây dựng pháp luật; được quyền tiếp cận thông tin; tham gia các chương trình giáo dục công chúng như giảng dạy về PCTN trong nhà trường và trường đại học… Công dân Việt Nam có thể dễ dàng biết đến các cơ quan chức năng PCTN và có thể  tiếp cận bằng nhiều hình thức như qua công tác tiếp công dân, đường dây nóng, hộp thư điện tử… để cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.

Chín là, pháp luật Việt Nam đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của Công ước về các biện pháp chống rửa tiền

Khi phê chuẩn Công ước, Việt Nam chưa ban hành Luật Phòng, chống rửa tiền, do đó việc nội luật hoá các yêu cầu của Công ước về chống rửa tiền đã được Chính phủ đặc biệt quan tâm, cụ thể hoá trong Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 và kế hoạch thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Nhiệm vụ nội luật hoá sau đó đã được Ngân hàng Nhà nước triển khai và Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống rửa tiền vào năm 2012. Với việc ban hành Luật Phòng, chống rửa tiền, Việt Nam đã thiết lập được cơ chế giám sát và điều tiết toàn diện trong nước đối với các ngân hàng, các định chế tài chính phi ngân hàng; cơ chế hợp tác và trao đổi thông tin ở cấp quốc gia và quốc tế nhằm phòng, chống rửa tiền, thành lập đơn vị tình báo tài chính (Cục Phòng, chống rửa tiền) hoạt động như một trung tâm quốc gia để thu thập, phân tích và phổ biến thông tin. Việc di chuyển tiền mặt và các công cụ có giá trị chuyển đổi qua biên giới cũng có quy định cụ thể về hạn mức phải khai báo; vừa kiểm soát tiền tệ, vừa không gây trở ngại đối với các dòng vốn hợp pháp. Các thủ tục liên quan đến chuyển tiền theo yêu cầu của Công ước cũng đã được quy định cụ thể… Do đó cơ bản đã đáp ứng yêu cầu của Công ước về chống rửa tiền.

 Ngô Mạnh Hùng