Tăng cường tính công khai, minh bạch

Còn nhớ, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng năm 2016, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2017 diễn ra tại Hà Nội vào cuối tháng 2/2017, trong bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ mục đích, quyết tâm của công tác kiểm tra, giám sát Đảng: “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng là để kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống với mục đích “trị bệnh cứu người”.

Đồng thời, kiên quyết xử lý những tổ chức đảng, đảng viên cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, đến sự phát triển của đất nước”.

Nhưng bên cạnh đó, Tổng Bí thư cũng thẳng thắn nhìn nhận: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình. Không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình. Trái lại, rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người”.

Qua đó cho thấy ngoài quyết tâm phòng chống tham nhũng, thì công tác kiểm tra, giám sát Đảng là rất quan trọng. Và trong phòng chống tham nhũng thì công tác “phòng” quan trọng hơn “chống” rất nhiều. Bởi khi buộc phải “chống tham nhũng” là khi “cực chẳng đã”, đó là lúc cán bộ đảng viên đã sai phạm, và việc thi hành kỉ luật là việc Đảng bắt buộc phải làm, vì sự trong sạch và vững mạnh của Đảng, vì lợi ích chung của nhân dân, của dân tộc.

Trong một xã hội với thể chế nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân”, thì tính minh bạch trong hoạt động quản lý là lẽ đương nhiên, cũng có thể coi là lẽ sống, nguồn sức mạnh của bộ máy công quyền.

Đối với công tác phòng chống tham nhũng, tính minh bạch trước hết phải được thực hiện thông qua chế độ công khai, minh bạch về các hoạt động quản lý của Nhà nước, minh bạch trong quá trình hoạch định và thi hành các cơ chế chính sách và minh bạch ngay trong lĩnh vực kinh tế.

Công khai, minh bạch về kinh tế là quan trọng nhất. Đầu tiên là công khai, minh bạch các quy hoạch, mà quan trọng nhất hiện nay là công khai, minh bạch trong quy hoạch sử dụng đất, trong việc cấp đất, sử dụng đất - nguồn tài nguyên quý giá của đất nước đang bị sử dụng lãng phí và bị tham ô, chiếm đoạt nghiêm trọng.

Kế đến là minh bạch trong việc huy động và sử dụng ngân sách nhà nước, để khắc phục việc sử dụng ngân sách kém hiệu quả, gây nợ nần cho đời sau. Các dự án đầu tư công (dùng các nguồn vốn có nguồn gốc nhà nước) cũng cần được công khai, minh bạch, được giám sát chặt chẽ để tránh tham nhũng, lãng phí, kém hiệu quả và trở thành một nhân tố gây ra lạm phát.

Công khai, minh bạch về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cũng đang là một vấn đề được công luận quan tâm, vì đang có những số liệu khác nhau về vấn đề này.

Việc công bố công khai, minh bạch quá trình hoạch định và thi hành các cơ chế, chính sách là rất cần thiết. Được thảo luận và tranh luận công khai, dân chủ, thì cơ chế, chính sách được bổ sung, hoàn chỉnh, do đó sẽ sát thực tế, đáp ứng đúng yêu cầu phát triển của đất nước, nhất là khắc phục được tình trạng “kinh doanh cơ chế” hay “tham nhũng chính sách”, lợi dụng cơ chế để mưu cầu lợi ích cục bộ, địa phương, phe nhóm.

Đối với cán bộ, công chức, việc cần làm thiết thực hiện nay là kê khai và công bố công khai, minh bạch tài sản của họ theo quy định. Trước mắt là thực hiện công khai, minh bạch tài sản của người ứng cử đại biểu Quốc hội. Cũng không kém phần quan trọng là minh bạch, công khai trong việc tuyển dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức.

Nếu làm được như vậy, thì không những sẽ góp một biện pháp hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo niềm tin của dân đối với bộ máy nhà nước.

leftcenterrightdel
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trong 

Tăng cường cơ chế giải trình

Trong tình hình hiện nay, minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình không chỉ là một yêu cầu cấp thiết để thực hành dân chủ, bảo đảm quyền của dân trong tham gia quản lý đất nước. Đồng thời, đây cũng là một giải pháp hữu hiệu nhằm phòng, chống tệ nạn tham nhũng, nỗi nhức nhối của xã hội, làm trong sạch bộ máy và củng cố niềm tin của dân đối với Nhà nước.

Trách nhiệm giải trình là trách nhiệm của cơ quan, của người đứng đầu cơ quan nhà nước báo cáo, trình bày trước dân hoặc trước cơ quan, tổ chức đại diện của dân (như Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các đoàn thể nhân dân...) về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Đây cũng là một hoạt động thể hiện quyền giám sát của dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, tránh được tình trạng khi có khuyết điểm, thiếu sót thường đùn đẩy, không rõ địa chỉ tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm.

Nội dung giải trình không chỉ là trình bày những việc đã làm, nêu đúng được những ưu, khuyết điểm trong công tác của cơ quan nhà nước, nhất là trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

Yêu cầu của việc giải trình là chân thực, khách quan, đúng sự thật, đúng trách nhiệm, không né tránh, đùn đẩy. Qua kết quả giải trình, có thể lấy ý kiến về sự tín nhiệm đối với cán bộ. Qua đó, có thêm căn cứ trong việc đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức.

Về những giải pháp để thực hiện được tính minh bạch trong quản lý kinh tế - xã hội hiện nay, cần phải củng cố nhận thức rằng bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức được dân cử ra để thực hiện chức năng quản lý đất nước theo pháp luật. Họ được dân trả công bằng tiền thuế do dân đóng góp và họ cũng sẽ bị dân sa thải nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Do vậy, công việc của họ nhất thiết phải đặt dưới sự giám sát của dân và do đó phải công khai, minh bạch, phải có trách nhiệm giải trình với dân.

Cần xóa bỏ hoàn toàn tâm lý cán bộ, công chức là người đứng trên dân, có quyền “ban phát” cho dân mà không có trách nhiệm với dân, còn dân lại là người phải “chịu ơn” của cán bộ, công chức. Cũng rất cần thiết giáo dục đạo đức, làm cho cán bộ, công chức tự thấy hổ thẹn với lương tâm của chính họ, xấu hổ với gia đình, bạn bè, khi họ tham nhũng, ăn cắp của dân, dù có khi họ vẫn “hạ cánh an toàn”.

Tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với Đảng

Điều 4, Hiến pháp 2013 (sửa đổi) đã quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.

Sự hiến định vai trò của Đảng trong Hiến pháp 2013 không chỉ ở địa vị pháp lý mà còn là trách nhiệm pháp lý của Đảng đối với nhân dân, với Nhà nước và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhân dân là người làm chủ, để Đảng ngày càng gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng phải chịu sự giám sát của nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế, có lúc, có nơi, quy định này của Hiến pháp này đã và đang bị nhiều tổ chức, ban ngành và địa phương xem nhẹ hoặc thực hiện một cách chung chung, hình thức.

Trước hết và quan trọng nhất là giám sát đường lối, chính sách. Điều này Đảng khẳng định rất rõ: “Đường lối chính sách của Đảng thể hiện nguyện vọng và lợi ích của nhân dân”. Song có nơi, nghị quyết của Đảng chỉ được bàn và quyết trong nội bộ Đảng. Chỉ có đại hội nhiệm kì, mới đưa ra công khai cho dân góp ý một cách hình thức.

Cũng cần nói thêm là công tác giám sát về tổ chức của nhân dân đối với Đảng hiện nay vẫn chưa phát huy được nhiều và hiệu quả vẫn chưa cao, vì tổ chức Đảng là một hệ thống độc lập, có điều lệ và nguyên tắc hoạt động riêng, người dân không được biết và không có quyền góp ý.

Giám sát cán bộ, đảng viên thì cả một bài toán nan giải. Trên thực tế, chỉ riêng việc công khai tài sản cán bộ đảng viên để nhân dân giám sát là rất thiết thực và hiệu quả cho xây dựng Đảng mà mấy chục năm nay vẫn... không công khai được.

Cán bộ đảng viên của đảng trước hết họ cũng là công dân, cùng sống, cùng sinh hoạt trong cộng đồng dân cư. Vì vậy, họ luôn bị dân giám sát. Nhỏ như cái kim, sợi chỉ có thể thu giấu được nhưng cái biệt thự, trang trại, ô tô, hàng chục lô đất, con cái du học... thì không thể che giấu qua mắt người dân được.

Thực tế cho thấy, những vụ việc sai phạm của nhiều cán bộ từ cấp trung ương đến cấp địa phương trong thời gian qua phần lớn đều được phát hiện bởi nhân dân và truyền thông, báo chí. Nhờ có nhân dân, truyền thông phản ánh mà Đảng mới kịp thời kiểm tra và xử lý.

Bởi vậy, Quy định 85 của Bộ Chính trị không phải là điều gì đó quá “bất ngờ”, mà nó xuất phát từ chính nhu cầu cấp thiết từ thực tiễn hiện nay.

Vấn đề này là công việc của Đảng, nên sẽ phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm của Ban lãnh đạo Đảng hiện nay. Rào cản lớn nhất vẫn là mức độ quyết tâm của Đảng khi thực hiện như thế nào mà thôi.

Lưu Thủy