Với mục tiêu không để một HSSV nào đã trúng tuyển đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí, chính sách tín dụng HSSV của NHCSXH đã chuyển tải vốn vay đến đúng đối tượng hưởng lợi và được sử dụng có hiệu quả.

Chính sách tín dụng HSSV đã rút ngắn chênh lệch giữa các vùng miền. Bất kể HSSV ở nông thôn hay vùng núi, hải đảo, vùng xa xôi thuộc đối tượng vay vốn chính sách tín dụng HSSV theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg và các văn bản sửa đổi, bổ sung, khi thực hiện các quy trình, thủ tục vay vốn theo quy định sẽ được vay vốn để học tập có cơ hội thoát nghèo vươn lên trong cuộc sống. Thị phần của tín dụng chính sách nói chung và tín dụng HSSV tại các xã vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng khó khăn tăng nhanh, nói chung đã chiếm hơn 50% dư nợ tín dụng trên địa bàn xã, một số xã chiếm trên 80% (1).

Việc cho vay theo chính sách tín dụng HSSV diễn ra trong một quá trình dài, tuy nhiên, chi phí vận hành của chính sách tín dụng này được tiết giảm tối đa. Điều đó là nhờ việc trực tiếp cho vay hộ gia đình HSSV thông qua ủy thác một số nhiệm vụ đối với tổ chức chính trị - xã hội đã chuyển tải vốn tín dụng ưu đãi nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm thời gian, chi phí cho cả người vay và ngân hàng.

Bên cạnh đó, chính sách tín dụng đối với HSSV được vận hành bởi bộ máy gọn nhẹ và có thể cho vay được nhiều đối tượng: HSSV mồ côi, HSSV thuộc hộ gia đình nghèo, HSSV thuộc hộ gia đình cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn đột xuất, hộ vay vốn lao động nông thôn học nghề, hộ vay vốn bộ đội xuất ngũ học nghề với dư nợ tập trung chủ yếu ở đối tượng hộ cận nghèo, hộ có khó khăn đột xuất, hộ nghèo.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

NHCSXH kết hợp các tổ chức chính trị-xã hội là Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên đến từng thôn, xóm, từng gia đình ở khắp mọi miền tổ quốc để tuyên truyền, triển khai thực hiện chính sách tín dụng HSSV của NHCSXH, thể hiện qua số dư nợ của các hội, đoàn thể.

Chi phí quản lý của chính sách tín dụng HSSV khá tiết kiệm. Cụ thể, NHCSXH sử dụng kinh phí chi trả cho các cán bộ NHCSXH, trả phí cho các tổ chức đoàn thể thông qua việc ký hợp đồng ủy thác thực hiện một số công đoạn cho vay đến HSSV. Các tổ chức này tỏa đến từng gia đình đảm nhận nhiều công đoạn từ phổ biến chính sách, hướng dẫn quy trình, hồ sơ thủ tục đến việc đôn đốc thu hồi nợ đến hạn. Cán bộ NHCSXH chỉ phải thực hiện giải ngân vốn vay cho HSSV thông qua hộ gia đình hoặc qua thẻ ATM, thực hiện thông báo đến kỳ hạn trả nợ, thu hồi nợ thông qua tổ chức chính trị - xã hội, tổ tiết kiệm và vay vốn.

Tỷ lệ trả được nợ của chính sách tín dụng HSSV chiếm tỷ lệ cao, các hộ gia đình có HSSV vay vốn đều cố gắng trả nợ cho NHCSXH sau khi ra trường Ngoài ra, thông qua sự vận động của các tổ chức hội đoàn thể tại thôn xóm, các hộ gia đình có HSSV vay vốn có ý thức và trách nhiệm trong việc trả nợ.

Có thể thấy, chính sách tín dụng HSSV đã mang một ý nghĩa lớn cả về kinh tế, chính trị và xã hội, tạo sự gắn kết giữa kinh tế và xã hội trong công tác xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, sự bình đẳng trong giáo dục, góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước(2).

Những hạn chế của chính sách tín dụng học sinh, sinh viên

Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng chính sách do NHCSXH thực hiện đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, nhưng quá trình hoạt động vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế. Cụ thể, nguồn vốn để thực hiện tín dụng chính sách chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người vay. Vốn tín dụng chính sách chủ yếu được tập trung để cho vay trung và dài hạn, dư nợ trung và dài hạn chiếm gần 98%/tổng dư nợ. Tuy nhiên, nguồn vốn chưa có tính ổn định, lâu dài, bền vững. Nguồn vốn do Ngân sách Nhà nước cấp chiếm tỉ trọng thấp và có xu hướng giảm dần qua các năm, năm 2003 tỷ trọng vốn do ngân sách trung ương cấp chiếm 35,5%/tổng nguồn vốn, đến hết năm 2016 chỉ còn 19%. Việc tiếp cận được các nguồn vốn nhân đạo, vốn ODA, các nguồn vốn vay có thời hạn dài, lãi suất thấp còn rất hạn chế.

Theo quy định, đối tượng vay vốn của NHCSXH là hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được UBND cấp xã xác nhận. Công tác điều tra, xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức; có nơi chưa rà soát, bổ sung kịp thời những hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ tái nghèo mới phát sinh vào danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, làm ảnh hưởng tới việc hỗ trợ vốn kịp thời cho các đối tượng thụ hưởng.

Công tác phối hợp giữa các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ của các tổ chức Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội với hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH ở nhiều nơi chưa được quan tâm, đã ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay của người vay.

Ngoài ra, Ban đại diện Hội đồng quản trị ở một số địa phương còn chưa quan tâm, sâu sát đến hoạt động tín dụng chính sách. Vai trò, trách nhiệm và sự phối hợp của một số UBND cấp xã và việc thực hiện các nội dung công việc nhận ủy thác của một số tổ chức hội, đoàn thể chưa được quan tâm đúng mức. Chất lượng hoạt động của một số Tổ tiết kiệm và vay vốn chưa cao; năng lực quản lý và trình độ nghiệp vụ của bộ phận nhỏ cán bộ NHCSXH còn hạn chế...

UBND cấp xã tại một số địa phương thực hiện việc khảo sát điều tra bổ sung chưa kịp thời hộ nghèo, hộ có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân hộ nghèo, hộ gia đình khó khăn đột xuất về tài chính. Một số trường, cơ sở đào tạo thực hiện xác nhận cho HSSV còn chưa đầy đủ, chưa kịp thời, phần nào ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân cho vay của NHCSXH.

Sự phối kết hợp giữa NHCSXH với cấp uỷ, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác ở một số nơi chưa tốt. Đặc biệt là công tác kiểm tra, giám sát sử dụng vốn, công tác thông tin, tuyên truyền thiếu thường xuyên, chưa đi vào chiều sâu. Trong việc điều hành nguồn vốn, NHCSXH chưa thực sự chủ động trong việc huy động vốn để đảm bảo kế hoạch vay và kế hoạch vốn cần thiết để cho vay. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa NHCSXH với các trường học một số nơi cũng chưa tốt, đặc biệt trong việc xử lý sai sót, tồn tại trong việc xác nhận đối tượng cho vay như xác nhận đối tượng cho vay lỏng lẻo, đối tượng vay vốn sai mục đích, sai đối tượng nên cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tín dụng này, trong đó làm gia tăng nguồn vốn cho vay.

Bộ máy quá cồng kềnh cũng là một trong những hạn chế của Chính sách tín dụng học sinh, sinh viên. Hệ thống chân rết ở khắp các tỉnh, thành trong khi yêu cầu của thực tiễn không đến vậy, nhiều chi nhánh hoạt động còn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, chưa có tác động thực sự để vận hành bộ máy trơn tru, đẩy mạnh phát triển kinh tế trên địa bàn, hiệu quả hoạt động chưa cao3.

Sự phân định nhiệm vụ, chức năng giữa các đơn vị chưa rõ ràng, chưa gắn với trách nhiệm của cá nhân người lãnh đạo trong tập thể. Việc điều tra, khảo sát nhằm nắm bắt nhu cầu vốn vay, mức vay, thời hạn trả nợ cũng như hoàn thiện phát triển tín dụng HSSV còn hạn chế. Sự quan tâm về định hướng đào tạo, ngành đào tạo, hướng nghiệp cho HSSV và cả hộ gia đình chưa được thích đáng.

Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của chính sách tín dụng học sinh, sinh viên

Nguồn lực của Nhà nước có hạn, trong khi phải thực hiện đồng thời nhiều mục tiêu nhằm phát triển kinh tế - xã hội, nên mức độ đầu tư vốn của Nhà nước so với kế hoạch và yêu cầu nguồn vốn cho các chương trình mục tiêu giảm nghèo nói chung và tín dụng chính sách nói riêng còn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình hình bố trí vốn của NHCSXH đối với Chính sách tín dụng HSSV có lúc bị động và chưa kịp thời.

Một số chính quyền địa phương do chưa xác định được xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ ưu tiên hiện nay để giữ vững ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế nên hoạt động tín dụng chính sách chưa được tập trung nguồn lực thỏa đáng. Nguồn vốn giảm nghèo có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước bị phân tán và sử dụng kém hiệu quả. Nhiều nguồn lực của xã hội trong nước và ngoài nước chưa được khai thác hết để phục vụ cho hoạt động tín dụng chính sách xã hội.

Thiếu cơ chế chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất của các ngành, các cấp trong việc phối hợp, lồng ghép các chính sách, chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động chuyển giao công nghệ, huấn luyện, đào tạo nghề với hoạt động tín dụng chính sách trong toàn quốc cũng như trên từng địa bàn, đặc biệt là địa bàn cấp huyện.

NHCSXH mới tập trung thực hiện tốt hoạt động tín dụng, chưa đa dạng hóa và phát triển được các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các đối tượng khách hàng là hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Chưa có sự tách biệt giữa tiêu chí phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với tiêu chí phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo để hưởng các chính sách về y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội, ảnh hưởng tới công tác điều tra, xác nhận để cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách.

Cơ chế uỷ thác từng phần cho các tổ chức chính trị - xã hội là đúng đắn, phù hợp với chế độ chính trị, xã hội của nước ta, thời gian qua đã đạt kết quả tốt, khá toàn diện nhưng cũng nảy sinh một số bất cập. Cụ thể, các tổ chức hội chưa bao quát toàn diện đến cả 6 công đoạn được uỷ thác, đặc biệt là chưa chú ý đúng mức đến công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn, việc sử dụng vốn vay của các tổ viên và việc đôn đốc thu nợ. Chưa phân biệt rõ ràng chức năng của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý Tổ tiết kiệm & vay vốn với chức năng tác nghiệp của Tổ tiết kiệm và vay vốn.

Tổ tiết kiệm và vay vốn ở một số nơi chưa được củng cố, thiếu sự kết hợp hài hòa giữa Tổ tiết kiệm và vay vốn theo địa bàn thôn, bản với Tổ tiết kiệm và vay vốn theo tổ chức Hội, đoàn thể; chưa tổ chức được dịch vụ huy động vốn tự có, chưa làm tốt nhiệm vụ giám sát, đôn đốc các thành viên sử dụng vốn vay đúng mục đích.

Đội ngũ cán bộ Ngân hàng làm nhiệm vụ chuyên trách bình quân 07 người/Phòng giao dịch cấp huyện, công cụ lao động lạc hậu, chủ yếu còn làm thủ công, chỉ đủ sức tổ chức nghiệp vụ hạch toán kế toán tiền vay và tổ chức một tổ giải ngân lưu động hàng ngày tại xã; không có điều kiện tổ chức triển khai các nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát, dịch vụ huy động vốn, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác đến người vay.

Công tác thu hồi nợ quá hạn, nhất là các khoản nợ chây ỳ phát sinh từ trước khi nhận bàn giao, còn nhiều lúng túng. Cơ chế xử lý nợ rủi ro do nguyên nhân khách quan chưa phù hợp và triển khai chậm.

Bài học rút ra từ thực trạng chính sách tín dụng học sinh, sinh viên

Để khắc phục những vướng mắc trên, phát huy tối đa vai trò là công cụ đắc lực của Chính phủ trong quá trình triển khai các Chương trình, mục tiêu lớn nhằm soá đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, trong thời gian tới cần tập trung giải quyết các nội dung sau:

Thứ nhất, để Chính sách tín dụng HSSV có hiệu quả và chất lượng cao hơn nữa thì cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội đóng góp xây dựng NHCSXH ngày càng phát triển lớn mạnh và bền vững. Tổ chức thực hiện hiệu quả phương châm Trung ương và địa phương cùng làm, Nhà nước và nhân dân cùng làm chính là giải pháp quyết định sự thắng lợi, góp phần thực hiện có kết quả các chương trình quốc gia về giảm nghèo, chương trình quốc gia về giáo dục và đào tạo về tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.

Thứ hai, với mô hình đặc thù của NHCSXH khi triển khai Chính sách tín dụng HSSV với sự kết hợp giữa NHCSXH với các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và Tổ tiết kiệm và vay vốn do cộng đồng dân cư thành lập, hình thành nên mô hình quản lý kênh tín dụng chính sách, vừa tận dụng được tiềm lực to lớn về cơ sở vật chất và con người, vừa là một giải pháp thực tế tiết kiệm chi phí quản lý xã hội, vừa là một giải pháp chiến lược lâu dài, quyết định sự phát triển bền vững, có hiệu lực và hiệu quả cao đối với hoạt động của NHCSXH.

Thứ ba, bản chất vốn tín dụng chính sách là nguồn lực của Nhà nước, đòi hỏi phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc quản lý dân chủ, công khai từ cơ sở, tạo cơ hội cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn đột xuất về tài chính… có cơ hội tiếp cận với dịch vụ tài chính, tín dụng và ngân hàng.  Mối quan hệ liên kết giữa các khâu trong bộ máy quản lý Nhà nước ở địa phương với NHCSXH thông qua hoạt động tín dụng chính sách đã tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý Nhà nước, NHCSXH và các tổ chức chính trị - xã hội gắn bó với dân, gần dân, hiểu dân, nắm bắt thực tế để xử lý công việc, nâng cao chất lượng hoạt động của chính mình và tạo điều kiện cho nhân dân giám sát việc thực thi Chính sách tín dụng HSSV cũng như các chính sách tín dụng ưu đãi khác của Nhà nước, góp phần xây dựng NHCSXH ngày một lớn mạnh.

Thứ tư, qua phân tích thực trạng Chính sách tín dụng HSSV ở Việt Nam, cho thấy phương thức giao dịch có hiệu quả của NHCSXH đó là phương thức tín dụng giao dịch trực tiếp đối với người vay tại điểm giao dịch xã. Trong phương thức giao dịch này NHCSXH cần phải ủy thác một số nội dung công việc qua tổ chức chính trị - xã hội, để các tổ chức chính trị - xã hội cho vay tới các hộ gia đình HSSV. Phương thức giao dịch này thể hiện sự công khai, minh bạch, đồng thời có sự giám sát của chính quyền, của cộng đồng xã hội đã góp phần tạo được lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.

Thứ năm, việc tuyển chọn, đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ trong ngành tâm huyết, tinh thông nghề nghiệp, có ý thức tổ chức kỷ luật và phong cách giao tiếp văn minh, lịch sự, tận tuỵ phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác là nhân tố rất quan trọng đưa đến thành công. Từng bước hiện đại hóa, tin học hóa hoạt động ngân hàng trong toàn hệ thống NHCSXH phù hợp với nguồn lực tài chính của mình để phục vụ tốt cho hoạt động, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Ths. Nguyễn Hoàng Long

Chú thích:

(1) Tô Ngọc Hưng, Giải pháp tín dụng cho người nghèo với chương trình xây dựng nông thôn mới, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành ngân hàng, 2016.

(2) Ngân hàng chính sách xã hội, Báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH từ ngày thành lập tới nay, 2014.

(3) Ngân hàng chính sách xã hội, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên, 2013.

Tài liệu tham khảo:

1.      Ngân hàng chính sách xã hội, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên, 2013.

2.      Ngân hàng chính sách xã hội, 2014, Báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH từ ngày thành lập tới nay.

3.      Ngân hàng chính sách xã hội, 2016, Báo cáo thường niên.

4.      Ngân hàng chính sách xã hội, 2016, Giới thiệu các chương trình tín dụng đang thực hiện tại Ngân hàng chính sách xã hội.

5.      Ngân hàng chính sách xã hội, 2016, Phương thức ủy thác cho vay thông qua các tổ chức chính trị xã hội.

6.      Đảng cộng sản Việt Nam, 2016, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XXII, Nhà xuất bản chính trị quốc gia.

7.      Tô Ngọc Hưng, Giải pháp tín dụng cho người nghèo với chương trình xây dựng nông thôn mới, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành ngân hàng, 2016.