Đến nay, chưa có một cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập chung được các quốc gia áp dụng. Tuy nhiên, thực tiễn quốc tế và Việt Nam thời gian qua cho thấy, cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập được thực hiện thông qua các biện pháp như kê khai và công khai tài sản, thu nhập; thiết lập các thiết chế thực hiện việc kiểm soát tài sản, thu nhập; xây dựng và thực thi hoạt động xác minh, điều tra về tài sản, thu nhập; áp dụng chế tài đủ mạnh để xử lý hành vi che giấu và không trung thực về kê khai thu nhập.

Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2005 nhận định công tác PCTN đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; giúp cải thiện môi trường kinh doanh và đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, cơ chế kiểm soát đối với cán bộ, công chức, viên chức và chế độ công vụ ngày càng được cải thiện.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng, đến thời điểm năm 2015, tỷ lệ kê khai tài sản, thu nhập đúng thời hạn đã đạt 99,5%. Công khai đạt tỷ lệ 98,3%. Qua 10 năm đã xác minh được 4.859 trường hợp, nhưng chỉ phát hiện, xử lý kỷ luật 17 người kê khai tài sản không trung thực. Ngoài ra, còn có 70 người bị xử lý kỷ luật do vi phạm quy định về tổ chức thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập.

Có thể nói, việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập đã có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, của cán bộ, công chức, giúp công tác quản lý cán bộ, đảng viên được chặt chẽ hơn, tạo cơ sở quan trọng để tiến tới kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Song, việc kê khai tài sản trong 10 năm qua còn mang tính hình thức, chưa góp phần kiểm soát được thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

Nhằm khắc phục tình trạng nói trên, đồng thời để nâng cao hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, đã có nhiều ý kiến                                                  cho rằng, cần thiết lập khuôn khổ pháp lý phù hợp để kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Bởi, không có một giải pháp hoàn thiện nào cho việc xây dựng hệ thống các quy định về kiểm soát tài sản và thu nhập để áp dụng chung cho các quốc gia. Điều quan trọng là phải đảm bảo các nguyên tắc chính của việc kiểm soát thu nhập được thể hiện trong các văn bản luật cơ bản nhằm nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng và đảm bảo sự chấp nhận về mặt xã hội đối với các yêu cầu pháp luật về kiểm soát thu nhập.

Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, không nên xây dựng quy định thống nhất cho tất cả đối tượng chịu sự kiểm soát mà thiết lập quy định riêng cho từng loại đối tượng. Liên quan đến nội dung này còn nhiều tranh luận giữa việc xây dựng một hệ thống các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập áp dụng chung cho tất cả các ngành, gồm lập pháp, hành pháp, tư pháp và cho tất các công chức từ bộ trưởng đến công chức thường với việc quy định riêng theo phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền. Thực tiễn nhiều quốc gia đều thiết lập các quy định chuyên biệt về kiểm soát tài sản, thu nhập cho từng nhóm đối tượng công chức và phân loại theo nhóm ngành, lĩnh vực. Việc phòng ngừa xung đột lợi ích giữa các công chức trong cơ quan là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan. Do đó, mỗi cơ quan quản lý công có thể xây dựng các quy tắc kiểm soát riêng dựa trên các nguyên tắc chung mà trong đó có thể yêu cầu hay không yêu cầu các công chức giữ chức vụ khác kê khai tài sản và thu nhập. Tuy nhiên, dù có hay không quy định kê khai tài sản, thu nhập đối với nhóm công chức này, thì một cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập vẫn là cần thiết.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa (nguồn internet)

Việc kiểm soát thông tin về tài sản, thu nhập của người thân thích của người có chức vụ, quyền hạn cũng không cần áp dụng đối với tất cả cán bộ, công chức thuộc diện kiểm soát mà nên tập trung vào nhóm cán bộ, công chức cao cấp, có ảnh hưởng lớn đối với kinh tế, chính trị của đất nước hoặc từng ngành, lĩnh vực, địa phương.

Cũng nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực PCTN đề xuất giải pháp xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.

Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để thiết lập một hoặc một số cơ quan nhất định chịu trách nhiệm kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo hướng cơ quan kiểm tra Đảng các cấp chủ trì kiểm soát thu nhập của cán bộ trong các cơ quan Đảng, cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý; các cơ quan thanh tra Nhà nước các cấp chủ trì kiểm soát thu nhập của các cán bộ còn lại trong khối hành pháp và các tổ chức, đoàn thể.

Xác định đối tượng chịu sự kiểm soát tài sản, thu nhập cũng là một định hướng tốt, trong đó, cần cân nhắc và đánh giá mọi khía cạnh để có cách tiếp cận rộng hay hẹp về vấn đề loại công chức nào sẽ chịu sự kiểm soát tài sản, thu nhập. Trên thực tế, không có bằng chứng nào cho thấy việc quy định ở phạm vi rộng đối với những công chức chịu kiểm soát thu nhập có thể đem lại hiệu quả cho việc phòng ngừa tham nhũng. Các công chức tham nhũng thường che giấu tài sản, thu nhập dưới tên người thân quen. Do vậy, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ cũng cần tính đến việc minh bạch tài sản của những người thân thích khác ngoài vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Điều này có thể đạt được thông qua kê khai tài sản, thu nhập của công chức hay hệ thống thuế, ngân hàng hoặc cơ quan thực thi pháp luật. Tuy nhiên, cần phải đảm bảo tối đa bí mật đời tư của những đối tượng này. Việc bao phủ của hệ thống các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập không thể làm ảnh hưởng đến những người liên quan mà không phải là công chức, đặc biệt là những thông tin kê khai được công bố ra công chúng sẽ làm tăng lo ngại về việc bảo vệ bí mật đời tư.

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc ý kiến góp ý của các chuyên gia trong và ngoài nước, của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, Thanh tra Chính phủ đã xây dựng Dự thảo Luật PCTN (sửa đổi). Theo đó, Dự thảo Luật đã quy định thành một chương riêng với nhiều quy định mới, thực chất nhằm hướng tới việc kiểm soát được tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức và một số người có chức vụ, quyền hạn khác. Nội dung của chương này bao gồm quy định về kê khai tài sản, thu nhập; quản lý bản kê khai; theo dõi biến động; xác minh tài sản, thu nhập; xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không được giải trình hợp lý.

Đặc biệt, để khắc phục tính hình thức trong việc kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập, Dự thảo lần này đã bổ sung quy định về cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập, bao gồm: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng; Thanh tra Chính phủ; các Ban của Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch Nước và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng ngân sách Nhà nước; Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Kiểm toán Nhà nước; thanh tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, đơn vị phụ trách công tác tổ chức - cán bộ tại nơi không có cơ quan thanh tra; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Thành ủy; Thanh tra tỉnh (Điều 40).

Dự thảo giữ nguyên quy định hiện hành về nghĩa vụ kê khai nhưng có điều chỉnh cho rõ ràng hơn. Theo đó, người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập phải kê khai và kê khai bổ sung tài sản, thu nhập của mình, của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.

Nội dung đối tượng kê khai (Điều 42) đã có sự điều chỉnh lớn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đối với tất cả công chức khi được bổ nhiệm vào ngạch; viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức khi được bầu, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ trong cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác được giao biên chế và sử dụng tài chính công, tài sản công.

Về hình thức và thời điểm kê khai (Điều 44), Dự thảo đã bỏ quy định về kê khai hàng năm và thay vào đó là kê khai lần đầu và kê khai bổ sung. Kê khai lần đầu được thực hiện với tất cả người có nghĩa vụ kê khai ngay sau khi Luật sửa đổi có hiệu lực; người được bổ nhiệm vào ngạch công chức và người dự kiến bầu, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, được dự kiến cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp mà chưa kê khai tài sản, thu nhập (khoản 1). Kê khai bổ sung đối với người đã kê khai lần đầu được dự kiến bầu, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; khi có biến động về tài sản hoặc thu nhập có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên (khoản 2). Dự thảo cũng kế thừa các quy định của Luật hiện hành về công khai bản kê khai (Điều 47), nhưng có sửa đổi cho phù hợp và gọn hơn, khắc phục tính hình thức.

Theo quy định của Luật hiện hành, bản kê khai tài sản, thu nhập do đơn vị/bộ phận phụ trách công tác tổ chức nhân sự của cơ quan, tổ chức nơi người kê khai công tác quản lý. Đối với người có nghĩa vụ kê khai thuộc diện cấp ủy quản lý thì ban tổ chức cấp ủy cùng cấp quản lý. Đây được nhận diện là một trong những hạn chế của Luật hiện hành dẫn đến tình trạng việc xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai ít được thực hiện trong 10 năm qua. Vì vậy, Dự thảo Luật đã quy định việc quản lý bản kê khai tài sản, thu nhập một cách tập trung (Điều 49). Theo đó, cơ quan, đơn vị quản lý tập trung bản kê khai là cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền. Cơ quan, đơn vị này có địa vị pháp lý “độc lập tương đối” với cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai. Phương án này giúp cho việc theo dõi, giám sát và kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai hiệu quả hơn, qua đó kịp thời xác minh để phát hiện, xử lý tham nhũng.

Đồng thời, Dự thảo cũng quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận bản kê khai, cung cấp thông tin bản kê khai và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bản kê khai (từ Điều 48 đến Điều 51).

Một quy định mới nữa của Dự thảo nhằm khắc phục tính hình thức trong quy định hiện hành đó là theo dõi biến động về tài sản, thu nhập. Dự thảo quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập trong việc chủ động thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu bản kê khai tài sản, thu nhập; cập nhật thông tin, dữ liệu về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai và cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, dữ liệu nhằm giải trình, làm rõ về tài sản, thu nhập tăng thêm và quyết định việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ quy định (Điều 52).

Dự thảo đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (Điều 53); trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan (Điều 54).

Ngoài ra, để đảm bảo cho việc kê khai được chính xác, trung thực nhằm kiểm soát có hiệu quả hơn tài sản, thu nhập của người kê khai Dự thảo đã mở rộng căn cứ xác minh tài sản, thu nhập so với quy định hiện hành, bao gồm: Khi có căn cứ việc kê khai không trung thực, không giải trình hợp lý; khi có tố cáo về việc kê khai tài sản, thu nhập; quy định việc xác minh bắt buộc đối với những người dự kiến bầu, bổ nhiệm, phân công giữ chức vụ và hưởng phụ cấp trách nhiệm từ 0,9 trở lên nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính. Dự thảo cũng quy định, khi người đứng đầu xét thấy cần xác minh tài sản, thu nhập của người được dự kiến bầu, bổ nhiệm, cử giữ chức vụ và được hưởng phụ cấp trách nhiệm dưới 0,9 trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Dự luật này sẽ được Thanh tra Chính phủ trình Quốc hội vào tháng 10/2017 tới đây với hy vọng sớm được thông qua và đi vào thực tiễn. Tin rằng, Luật PCTN (sửa đổi) sẽ không chỉ khắc phục được những hạn chế, bất cập qua 10 năm thi hành Luật PCTN 2005 mà còn là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng ở Việt Nam, đặc biệt là góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn./.

Kim Dung