Các cơ quan thanh tra nằm trong bộ máy hành chính và hoạt động của các cơ quan thanh tra hướng vào kiểm soát hệ thống hành chính. Các quy định về thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, của thủ trưởng cơ quan thanh tra đã được xác định trong Luật Than  h tra năm 2010. Đối tượng thanh tra của các cơ quan này là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp.

Sau khi Luật Thanh tra năm 2004 có hiệu lực thi hành, ngày 23/6/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động thanh tra CAND, trong đó xác định “thanh tra CAND là thanh tra Nhà nước được tổ chức thành hệ thống trong CAND, có chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công an”.

Sau khi Luật Thanh tra năm 2010 có hiệu lực thi hành, ngày 13/5/2014 Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2014/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra CAND, trong đó quy định: “Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, cơ quan thanh tra trong CAND có trách nhiệm thực hiện và giúp cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cùng cấp thực hiện quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tiến hành thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật”, đồng thời xác định cụ thể nguyên tắc hoạt động, mối quan hệ công tác, hình thức thanh tra, các hoạt động thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành...

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Theo quy định đó, tổ chức bộ máy của Thanh tra CAND đã được kiện toàn từ Thanh tra Bộ đến Thanh tra các Tổng cục, Bộ Tư lệnh và Thanh tra Công an, Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương, Thanh tra Công an cấp huyện để tham mưu, giúp thủ trưởng cùng cấp tổ chức thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước. Hoạt động thanh tra đã tuân thủ theo các quy định của Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành. Qua công tác thanh tra hành chính đã kịp thời phát hiện những hạn chế trong công tác quản lý; phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm; chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, thiếu sót góp phần xây dựng lực lượng CAND trong sạch vững mạnh về mọi mặt. Công tác thanh tra chuyên ngành ngày càng được đẩy mạnh thực sự làm chuyển biến về nhận thức, tư tưởng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, thuộc chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Công an.

Tuy nhiên, đánh giá về địa vị pháp lý và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra Nhà nước trong CAND cũng còn nhiều vướng mắc, trong đó có nguyên do Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật còn bộc lộ những hạn chế, như: Quy định của Luật Thanh tra hiện nay dẫn đến sự phụ thuộc quá lớn của các cơ quan thanh tra vào thủ trưởng cơ quan, quản lý cùng cấp, phần nào ảnh hưởng đến tính chủ động và độc lập trong hoạt động thanh tra; thời gian thanh tra của một số vụ việc còn kéo dài, chưa đáp ứng được tính thời sự, khẩn trương, kịp thời; thực trạng hiện nay cơ quan thanh tra Nhà nước chỉ có quyền kiến nghị, đề xuất mà không có thẩm quyền quyết định xử lý. Quyết định xử lý thuộc về người đứng đầu cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp, trong khi đó chưa quy định cụ thể về nội dung thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp với cơ quan thanh tra chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình trong việc ra các quyết định thanh tra, chỉ đạo thanh tra, xử lý không kịp thời, không đúng với kết luận, kiến nghị đã nêu trong kết luận thanh tra. Bên cạnh đó, lực lượng thanh tra CAND hưởng mức phụ cấp chung 15% khi bổ nhiệm các ngạch thanh tra viên.

Để được bổ nhiệm chức danh thanh tra viên trong Công an, ngoài các tiêu chuẩn chung như đối với các chức danh sơ cấp khác còn kèm điều kiện phải có chứng chỉ bồi dưỡng ngạch thanh tra, chứng chỉ bồi dưỡng chuyên viên quản lý Nhà nước, trong khi quy định trần cấp hàm chỉ là tương đương với các chức danh sơ cấp khác, do đó không thu hút được cán bộ.

Mặc dù, Luật Thanh tra năm 2010 được xây dựng với tinh thần nâng cao tính độc lập tương đối giữa thủ trưởng cơ quan thanh tra và thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp nhưng trong thực tế chưa thực sự khả thi. Nguyên nhân xuất phát từ sự phụ thuộc quá nhiều của các cơ quan thanh tra Nhà nước vào cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp về tổ chức, nhân sự, kinh phí trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, trong quá trình tiến hành thanh tra cũng như trong việc ban hành kết luận thanh tra, kiến nghị xử lý sau thanh tra. Từ đó ảnh hưởng đến tính chủ động và độc lập, khách quan trong hoạt động thanh tra của các cơ quan thanh tra. 

Theo Điều 43, Điều 51, thủ trưởng cơ quan thanh tra Nhà nước được quyền ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra, thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước chỉ ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra khi xét thấy cần thiết. Thực tế hiện nay, việc ban hành quyết định thanh tra đều do thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp ra quyết định thanh tra.

Tại Điều 41 Luật Thanh tra về xử lý hành vi không thực hiện yêu cầu, kết luận, quyết định xử lý về thanh tra đối với đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin, tài liệu; tiêu hủy tài liệu, vật chứng; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời thi hành kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về trình tự, thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thanh tra, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả thanh tra bị hạn chế.  

Tại Điều 42 Luật Thanh tra quy định xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của đoàn thanh tra. Tuy nhiên, việc xử lý như thế nào, chế tài chưa được cụ thể hoá bằng quy định của pháp luật có liên quan.

Theo Khoản 3 Điều 37 Luật Thanh tra quy định thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, nhưng tại Điều 38 Luật Thanh tra chưa nêu cụ thể căn cứ ra quyết định thanh tra thường xuyên. Đồng thời, Mục 1, 2 Chương III Nghị định số 07/2012/NĐ-CP quy định hoạt động của đoàn thanh tra, thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập, thanh tra theo kế hoạch và đột xuất nhưng chưa quy định hình thức thanh tra thường xuyên cũng như chưa có quy định cụ thể trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra thường xuyên. Hoạt động thanh tra thường xuyên có trùng lắp với hoạt động kiểm tra của các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành không?

Tại khoản 2 Điều 30 của Luật Thanh tra quy định “khi tiến hành thanh tra, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành được xử phạt vi phạm hành chính và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”. Theo quy định tại điểm m, Khoản 1 Điều 53 Luật Thanh tra 2010, trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành có nhiệm vụ, quyền hạn xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Luật Xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định 167/2013/NĐ/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình lại không quy định thanh tra chuyên ngành CAND (Thanh tra Bộ, Thanh tra Công an, Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) được quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, dẫn đến tình trạng trong quá trình thanh tra chuyên ngành khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật hành chính, đoàn thanh tra chỉ ra kiến nghị, chấn chỉnh, lập biên bản vi phạm hành chính, giao cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt. Đây cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả của hoạt động thanh tra chuyên ngành CAND.

Luật Thanh tra quy định trong thời hạn 15 ngày quyết định thanh tra phải được công bố cho đối tượng thanh tra và phải được lập biên bản. Qua thực tế ở Công an các địa phương, khi thực hiện gặp rất nhiều khó khăn. Do không thể thành lập nhiều đoàn thanh tra cùng một lúc, trong khi đó một cuộc thanh tra có nhiều đối tượng thanh tra và nằm ở các địa bàn rộng, các đơn vị hành chính lại xa trung tâm đặc biệt là đối với những tỉnh miền núi, biên giới đi lại khó khăn, vì vậy không thể triệu tập tất cả các đối tượng thanh tra để công bố quyết định thanh tra gây khó khăn, phiền hà, tốn kém về kinh phí, phương tiện đi lại của đối tượng thanh tra.

Điều 45 Luật Thanh tra quy định về thời hạn thanh tra hành chính đối với Thanh tra Sở là 30 ngày được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra. Tuy nhiên, do đặc thù của một số tỉnh miền núi, vùng cao đi lại khó khăn cuộc thanh tra có nhiều đối tượng vì vậy sau khi công bố quyết định thanh tra phải tiến hành thanh tra tại nhiều nơi cách xa nhau nên thời hạn thanh tra quy định như trên là rất khó thực hiện, nếu muốn đảm bảo thời hạn thì chất lượng cuộc thanh tra sẽ không cao.  

Việc thực hiện giám sát hoạt động của đoàn thanh tra theo quy định tại Thông tư số 05/2015/TT-TTCP ngày 10/9/2015 của Thanh tra Chính phủ chưa phù hợp, khó khả thi vì tại khoản 1 Điều 4 quy định người giám sát là người ra quyết định thanh tra; tổ giám sát hoặc công chức được người ra quyết định thanh tra giao giám sát hoạt động của đoàn thanh tra. Quá trình áp dụng quy định này trên thực tế gặp không ít khó khăn do việc thành lập tổ giám sát hoặc giao cho cán bộ làm công tác giám sát chưa có quy định cụ thể về việc đơn vị, cán bộ nào được giao quyền giám sát nên còn gặp nhiều lúng túng trong thực hiện.

Trên cơ sở đánh giá những mặt đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện Luật Thanh tra năm 2010 nêu trên, tác giả đưa ra quan điểm đối với việc sửa đổi Luật Thanh tra như sau:

Thứ nhất, cơ quan thanh tra Nhà nước không tách khỏi bộ máy hành chính Nhà nước nhưng bổ sung thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan thanh tra Nhà nước, như quyền ra quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định thanh tra lại đối với các vụ việc thanh tra đã được  thủ trưởng cơ quan chuyên môn cùng cấp kết luận… Đây là các nội dung nhằm nâng cao vai trò, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra Nhà nước.

Thứ hai, cần quy định rõ kết luận thanh tra là một văn bản pháp lý mang tính bắt buộc, các tổ chức cá nhân có liên quan phải thực hiện kèm theo là chế tài quy định cụ thể việc xử lý nếu người có trách nhiệm mà không thực hiện kết luận thanh tra đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ ba, cần xác định vị trí pháp lý của người đứng đầu cơ quan thanh tra là người ký ban hành kết luận thanh tra phải là lãnh đạo cơ quan hành chính Nhà nước để nâng cao vị trí của cơ quan thanh tra và giá trị pháp lý của kết luận thanh tra.

Thứ tư, quy định cụ thể cơ chế giám sát hoạt động đoàn thanh tra của người đứng đầu cơ quan thanh tra, thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp giám sát nội bộ cơ quan thanh tra cần thiết có thể quy định đối tượng thanh tra được nhận xét đánh giá về hoạt động của đoàn thanh tra trong quá trình thực hiện cuộc thanh tra về tư thế, tác phong và đạo đức nghề nghiệp trong quy trình hoạt động của đoàn thanh tra.

Thứ năm, về hình thức thanh tra, quan điểm nhất trí như quy định tại Điều 37 Luật Thanh tra (ba hình thức: Thanh tra theo kỳ, thanh tra thường xuyên và thanh tra đột xuất). Tuy nhiên, cần quy định cụ thể trình tự thủ tục tiến hành thanh tra thường xuyên./.

                                                 Thiếu tướng, Ths. Phạm Lê Xuất

                                                 Phó Chánh Thanh tra Bộ Công an