Thứ nhất, về nội dung “Quyền yêu cầu cung cấp thông tin

Điều 14 Dự thảo được xây dựng trên cơ sở gộp Điều 31 và Điều 32 của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, quy định:1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và pháp luật có liên quan; 2. Việc cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình được thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và các quy định của pháp luật có liên quan. Chúng tôi cho rằng, quy định này chỉ được ghép về mặt cơ học nên chưa phù hợp với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và có phần thừa, không cần thiết phải quy định trong Dự thảo. Bởi theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, thì quyền tiếp cận thông tin, trong đó có quyền yêu cầu cung cấp thông tin chỉ dành cho công dân (Điều 4), chứ không dành cho cả cơ quan, tổ chức, đơn vị như Dự thảo quy định.

Cũng theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, thì trách nhiệm cung cấp thông tin chỉ quy định cho cơ quan nhà nước, còn tổ chức, đơn vị không có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 9). Mặt khác, tại Điểm K, Khoản 1 Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan và của đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; nội quy, quy chế do cơ quan nhà nước ban hành phải được công khai rộng rãi. Như vậy, thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan là loại thông tin phải được công khai rộng rãi trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử(1), các hình thức khác và công dân được quyền tự do tiếp cận. Khi thông tin đã được công khai rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng, thiết nghĩ công dân không cần dùng quyền yêu cầu (bởi, có thể công dân cũng ngại yêu cầu do có tâm lý chung khi tiếp xúc với cơ quan nhà nước). Việc quy định một điều luật về quyền yêu cầu cung cấp thông tin đối với loại thông tin đã được công khai rộng rãi, chúng tôi nghĩ rằng có phần thừa, không cần thiết.

Thứ hai, về quy định tặng quà và nhận quà tặng

Có lẽ xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản như: Việc lợi dụng văn hóa về tặng quà, cảm ơn để biếu xén, đưa hối lộ vì động cơ vụ lợi vẫn còn phổ biến; Các quy định về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng chưa chặt chẽ, không khả thi; Ranh giới giữa quà tặng và tài sản hối lộ chưa được làm rõ; Quy định trình tự báo cáo, nộp lại quà, nhất là quà bằng hiện vật phức tạp, khó thực hiện; Mặt khác, pháp luật cũng chưa quy định chế tài xử lý đối với quà tặng là những lợi ích phi vật chất(2)… nên Khoản 2 Điều 22 Dự thảo quy định "Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình".

leftcenterrightdel

Quy định này khiến chúng tôi liên tưởng tới một quy định của ngành Giao thông về “Đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn sẽ bị phạt”. Chất lượng mũ bảo hiểm đạt chuẩn hay không đạt chuẩn là trách nhiệm thuộc cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này, chứ người dân không thể có đủ điều kiện để xác định mũ bảo hiểm phải như thế nào mới đạt chuẩn. Khi mà cơ quan quản lý nhà nước không đưa ra được những biện pháp cụ thể, hiệu quả để kiểm soát chất lượng mũ bảo hiểm trên thực tế, lại đi kiểm soát quyền của người dân. Điều này hơi ngược so với quy định công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm.

Trở lại quy định trên, quà ở đây có thể là dạng vật chất hoặc phi vật chất. Đó là quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Quyền tài sản đó là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người. Quyền tài sản bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản(3). Trong đó, quyền sở hữu tài sản thể hiện ở việc chủ sở hữu được thực hiện các quyền năng của mình trực tiếp lên đối tượng của quyền sở hữu, hưởng dụng và định đoạt đối tượng của quyền sở hữu hoàn toàn theo ý chí của mình (một cách tuyệt đối nhất)(4). Như vậy, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền định đoạt tài sản của mình theo bất cứ cách nào, trong đó kể cả được tặng tài sản cho chủ thể khác.

Mặt khác, Kết luận số 103-KL/TW, ngày 29/9/2014 của Bộ Chính trị về Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã chỉ rõ: “Thể chế hóa quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được xác lập trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước”. Do vậy, pháp luật bảo vệ quyền tài sản của chủ sở hữu, cho phép chủ sở hữu định đoạt tài sản của mình, đồng thời, chủ sở hữu phải minh bạch các nghĩa vụ và trách nhiệm của mình liên quan đến quyền tài sản trong thủ tục hành chính nhà nước. Có nghĩa là, thủ tục hành chính nhà nước công khai, minh bạch là một cách để bảo đảm quyền tài sản của chủ sở hữu được sử dụng đúng pháp luật. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa tách bạch được quà tặng thông thường với quà tặng có liên quan đến nhiệm vụ, công vụ của người nhận quà(5). Trong thực tế, rất khó để xác định việc tặng quà, nhận quà liên quan đến công việc mình giải quyết. Bởi vì, nguyên tắc tổ chức và hoạt động trong bộ máy nhà nước hay trong bất kỳ tổ chức, đơn vị, cá nhân đều có dáng dấp của việc phân công, phối hợp, kiểm soát thực hiện. Đã là phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì mọi công việc đều có liên quan với nhau. Do đó, Dự thảo nên cho phép nhận quà và bổ sung nghĩa vụ kê khai quà tặng nhận được khi có yêu cầu kê khai tài sản. Các cơ quan quản lý nhà nước nên đặt ra những quy định cụ thể để công khai, minh bạch về việc nhận quà, tặng quà, chứ không phải nghiêm cấm quyền của chủ sở hữu tài sản để tạo thuận lợi cho bản thân trong phòng, chống tham nhũng. Như vậy là vi phạm quyền tài sản của chủ sở hữu tài sản do Hiến pháp quy định.

Thứ ba, về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập

Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, Việt Nam không có một cơ quan chuyên trách để quản lý thống nhất các bản kê khai, chịu trách nhiệm tiếp nhận các phản ánh về những nghi ngờ về tài sản, chủ động tiến hành theo dõi, xác minh khi thấy có những biến động đáng ngờ về tài sản tham nhũng của cán bộ, công chức(6). Chính vì thế, điểm mới, tiến bộ của Dự thảo là đã xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức (Điều 31). Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập là những cơ quan hiện có trong bộ máy nhà nước, nằm trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan đó. Điều này góp phần không phát sinh thêm cơ quan, đơn vị, làm giảm gánh nặng về biên chế, ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, Dự thảo bên cạnh việc quy định các cơ quan có chức năng giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng (Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh), thì Dự thảo cũng quy định nhiều đầu mối có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập là những cơ quan không có chức năng thanh tra như trên (chẳng hạn như Cơ quan giúp việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước…), như thế là dàn trải, không chuyên nghiệp và dễ dẫn đến lạm quyền, tham nhũng (Văn phòng Quốc hội cũng là một trong những cơ quan phải sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bên trong theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII). Trong khi Thanh tra Bộ cũng có chức năng giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong Bộ và cơ quan ngang bộ nhưng Dự thảo không quy định cụ thể Thanh tra bộ được quyền kiểm soát tài sản, thu nhập trong phạm vi bộ, cơ quan ngang bộ mà chỉ quy định chung là bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập (khoản 3). Việc không quy định cụ thể có thể dẫn đến tình trạng không thống nhất khi triển khai thực hiện trong thực tiễn. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan đã được quy định tại văn bản pháp luật khác, trở nên “thừa”, không cần thiết, vì trùng lặp, không thể hiện được đặc thù của cơ quan chuyên trách chống tham nhũng(7). Do đó, chúng tôi đồng ý với phương án là giao thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập cho Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ và Thanh tra tỉnh. Phương án này có ưu điểm là tập trung được đầu mối, đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, nguồn nhân lực với đội ngũ cán bộ chuyên trách, được đào tạo để đáp ứng nhiệm vụ được giao. Đây cũng là phương án đảm bảo sự tập trung, phân công, phân cấp trong bộ máy nhà nước để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Phù hợp với một trong những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 18-NQ/TW Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đó là “Thực hiện nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính”.

Hơn nữa, kiểm soát tài sản, thu nhập là một nội dung phức tạp, luôn đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa một cơ quan chuyên trách với các cơ quan khác có liên quan sẽ thuận lợi hơn việc cùng lúc phải hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa quá nhiều cơ quan khác nhau(8). Tác giả cho rằng, kiểm soát tài sản, thu nhập cũng là một biện pháp để kiểm soát quyền lực. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chính là cơ quan kiểm soát quyền lực. Do đó, để kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát quyền lực hiệu quả thì cần phải cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh. Tác giả đồng ý với phương án cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ của GS.TS. Trần Ngọc Đường, đó là, Thanh tra Chính phủ là cơ quan giúp Thủ tướng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ, độc lập với Chính phủ, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội(9). Tương tự Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh cũng cải cách theo định hướng như vậy./. 

Ths. Nguyễn Hùng Vừa - Ths. Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột

Chú thích:

(1) Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

(2) (3) (4) Vũ Công Giao - Đỗ Thu Huyền, Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (344), 2016, tr.83.

 (5) Bùi Thị Thanh Hằng - Nguyễn Anh Thư, Một số nội dung đáng lưu ý của Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (340), 2016, tr.7.

(6)Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr.56.

(7) (8)Ths. Đỗ Thu Huyền, Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn, http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/quy-111inh-ve-kiem-soat-tai-san-thu-nhap-cua-can-bo-cong-chuc-trong-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-111oi-cac-quan-111iem-khac-nhau-va-111e-xuat-lua-chon, truy cập ngày 05/7/2018.

(9)Trần Ngọc Đường, Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), 2017, tr.9.