Trong pháp luật Hình sự Việt Nam, khái niệm hình phạt được quy định lần đầu tiên tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Theo đó, khái niệm hình phạt được hiểu là “biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Khung hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và sẽ do Toà án quyết định mức hình phạt cụ thể”. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm chủ thể là pháp nhân thương mại. Theo đó, khái niệm hình phạt được luật định như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó(1).

1. Thực trạng quy định về hình phạt trong pháp luật Hình sự Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Nghiên cứu pháp luật Hình sự Việt Nam cho thấy, các quy định pháp luật về hình phạt ngày càng đổi mới, hoàn thiện theo hướng thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với cá nhân và pháp nhân phạm tội. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi tắt là BLHS) tiếp tục đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013(2). Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống hình phạt, trong đó các hình phạt chính được sắp xếp theo một trật tự nhất định từ hình phạt nhẹ đến hình phạt nặng, từ hình phạt ít nghiêm khắc đến hình phạt nghiêm khắc nhất. Mặt khác, trong các hình phạt khác nhau có nhiều hình phạt không tước tự do, điều đó thể hiện được tư tưởng nhân văn pháp luật hình sự của Nhà nước ta là đi từ cải tạo, giáo dục tới trừng trị nghiêm khắc đối với người phạm tội. Hình phạt, về bản chất không phải là sự trả thù của Nhà nước đối với người phạm tội mà mục đích chính của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Từng hình phạt khác nhau cũng có sự thay đổi về nhận thức và áp dụng theo xu hướng chung là mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt ít nghiêm khắc, đồng thời hạn chế phạm vi áp dụng các hình phạt nghiêm khắc.

leftcenterrightdel

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự thời gian qua cho thấy, mặc dù khá coi trọng tính trừng trị, tuy nhiên, những hình phạt đã tuyên cho thấy xu hướng nhân đạo, nhân văn và hướng thiện đã thể hiện rất rõ. Trong khi các hình phạt nặng như chung thân và tử hình có xu hướng ít được áp dụng hơn thì các hình phạt nhẹ như phạt tiền, cải tạo không giam giữ và phạt tù cho hưởng án treo lại ngày càng được các tòa án áp dụng nhiều hơn. Xu hướng tăng cường áp dụng án treo là một xu hướng tích cực trong áp dụng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Thứ hai, ngoài các biện pháp cưỡng chế hình sự, các biện pháp tha, miễn hình sự cũng được chú trọng đề cập với mục đích nhân đạo, là những quy định có lợi tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất. Ngoài việc xác định các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích… BLHS hiện hành đã bổ sung chế định tha tù trước hạn có điều kiện(3) với những quy định hết sức chặt chẽ nhưng đầy tính nhân văn, nhằm tạo cơ hội cho những phạm nhân tích cực cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ được sớm trở về với gia đình và xã hội, đồng thời tiếp tục chứng tỏ sự cải tạo của mình trong môi trường xã hội bình thường, có sự giám sát của chính quyền địa phương và của gia đình. Quy định này góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, xóa bỏ dần những định kiến của xã hội đối với người đã từng vi phạm pháp luật trong quá khứ nhưng có sự cải tạo tốt, thể hiện quyết tâm “hướng thiện(4).

Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống quy định về hình phạt hiện hành ở nước ta còn thiếu nhiều chế định hình phạt mang tính tiến bộ của một số nước trên thế giới, làm giảm hiệu quả và tạo nên sự đơn điệu của hệ thống hình phạt. Cụ thể là:

- Pháp luật hình sự chưa có quy định hình phạt “Lao động bắt buộc” trong hệ thống hình phạt chính thay cho hình phạt “Cảnh cáo” và điều kiện để áp dụng hình phạt này tương tự như điều kiện áp dụng của hình phạt cảnh cáo: “được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”. Hình phạt này tạo ra nghĩa vụ bắt buộc đối với người bị kết án bởi lẽ hình phạt “Cảnh cáo” không ràng buộc bất kỳ nghĩa vụ nào đối với người bị kết án sau khi bị tòa tuyên án.

- Một số hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam vẫn còn mang tính trừng trị nhiều hơn giáo dục vẫn được Tòa án ưu tiên lựa chọn trong quyết định hình phạt là hình phạt tù có thời hạn mặc dù điều luật có thể cho phép áp dụng bằng hình phạt khác không phải hình phạt tù (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ…) để thay thế. Cần thiết phải tăng cường áp dụng những hình phạt không phải hình phạt tù nhằm tạo sự cân đối trong hệ thống hình phạt và cá thể hóa trách nhiệm hình phạt và giảm áp lực cho các nhà tù. Ngoài ra, cần chú ý tới việc nghiên cứu xây dựng những khung hình phạt tù có giới hạn tối thiểu và tối đa thích hợp theo hướng rút ngắn khoảng cách giữa chúng nhằm tránh sự tùy tiện trong quyết định hình phạt của Tòa án.

- Trong hệ thống hình phạt chính, các hình phạt khác (ngoài hình phạt tù) còn chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn trong từng điều luật về các tội cụ thể. Hơn nữa, các hình phạt này được quy định ở dạng lựa chọn với hình phạt tù mà chưa quy định độc lập với hình phạt tù. Việc quy định như vậy chưa mở ra khả năng áp dụng rộng rãi các hình phạt không phải hình phạt tù.

- Hình phạt tiền vẫn chưa được mở rộng và còn hạn chế bị áp dụng trên thực tế cũng như chỉ áp dụng như một hình phạt bổ sung mà ít chú trọng áp dụng như một hình phạt chính độc lập. So với kinh nghiệm quốc tế, ở nước ta, điều này còn hạn chế. Luật Hình sự Việt Nam cần tăng cường hình phạt tiền (hình phạt chính lẫn hình phạt bổ sung). Cần quy định mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tiền không quá chênh lệch, quy định số lượng tiền phải phạt dựa trên thiệt hại thực tế hoặc giá trị số lượng hàng, vật phạm pháp có được do phạm tội mà có để xác định mức tiền phạt cụ thể tại thời điểm cụ thể.

- Hình phạt tù chung thân trong Luật Hình sự Việt Nam cũng đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc liên quan đến quy định hình phạt tù chung thân có giảm án và tù chung thân không giảm án, cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn.

- Hình phạt tử hình vẫn còn duy trì trong hệ thống hình phạt Việt Nam, điều này chưa hoàn toàn phù hợp với xu hướng chung của thế giới là giảm và tiến tới bỏ hình phạt tử hình do tính chất nhân đạo chung. Do đó, cần thiết loại bỏ hình phạt này ra khỏi hệ thống hình phạt Việt Nam theo lộ trình thích hợp. Vì trong tình hình xã hội hiện tại, để bảo vệ an ninh quốc gia, tăng cường trật tự kỷ cương pháp chế thì việc duy trì hình phạt này vẫn còn cần thiết.

- Hệ thống hình phạt bổ sung trong Luật Hình sự Việt Nam so với một số nước khá phong phú nhưng hiệu quả và tần suất áp dụng còn thấp vì bị xem là “hình phạt phụ”. Việc áp dụng một số hình phạt b