Xuất phát từ thực tiễn triển khai thực hiện Luật Thanh tra năm 2010, nhiều bộ, ngành, địa phương đã đưa ra những ý kiến đóng góp liên quan đến các vấn đề như: Địa vị pháp lý của cơ quan thanh tra Nhà nước; sự chồng chéo trong hoạt động thanh tra; việc công khai kết luận thanh tra; về tổ chức thi hành Luật Thanh tra hoặc hoạt động theo dõi, giám sát, kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra và thanh tra lại... Đây đều là những ý kiến xác đáng mà thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, xem xét trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện Luật Thanh tra sắp tới.

Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn: Nâng cao địa vị pháp lý của cơ quan thanh tra Nhà nước

Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010, Thanh tra ngành Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) chỉ còn cơ quan thanh tra bộ và thanh tra sở; các tổng cục, cục, chi cục chỉ có “bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành”. Ở thanh tra bộ chưa có hướng dẫn thống nhất cơ cấu tổ chức từ Thanh tra Chính phủ, mà cả cơ cấu tổ chức và biên chế đều tùy vào các bộ. Thông thường, thanh tra bộ bố trí theo các phòng, nhưng có nơi còn có thanh tra các vùng; biên chế có nơi khoảng 20 chỉ tiêu, có nơi trên 200 chỉ tiêu. Ở các tổng cục, các cục, bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành tương đương với vụ (thuộc tổng cục) hoặc phòng (ở các cục), tuy nhiên công tác tham mưu về thanh tra chuyên ngành đôi khi không phải là nhiệm vụ chính; biên chế lực lượng này ở Bộ NN&PTNT khoảng từ 3 đến 10 chỉ tiêu. Ở thanh tra các sở, ngành NN&PTNT, có nơi chỉ có 2 - 3 biên chế, có nơi 50 - 60 biên chế; có nơi thanh tra sở chủ yếu chỉ thực hiện thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành do các chi cục thực hiện; có nơi lực lượng thanh tra chuyên ngành các chi cục được tập trung về thanh tra sở.

Về quản lý tài chính của cơ quan thanh tra bộ, sở cũng chưa thống nhất, mà tùy nơi áp dụng khác nhau: Có nơi thực hiện theo cơ chế khoán chi hành chính, có con dấu và tài khoản riêng; có nơi thực hiện hạch toán phụ thuộc văn phòng bộ, sở.

Bất cập lớn nhất về địa vị pháp lý của cơ quan thanh tra hiện nay là sự phụ thuộc quá lớn vào cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp cả về tổ chức, nhân sự, kinh phí, trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, trong quá trình tiến hành thanh tra cũng như giai đoạn kết thúc, kết luận và kiến nghị xử lý. Điều này phần nào ảnh hưởng đến tính chủ động và độc lập trong hoạt động thanh tra.

Cũng do không có cơ cấu tổ chức thống nhất trong hệ thống thanh tra bộ, ngành nên mô hình tổ chức, biên chế mỗi nơi một khác, thậm chí là khác biệt; từ đó nguồn lực cho công tác thanh tra không tương xứng, dẫn đến hiệu quả hoạt động thanh tra còn nhiều hạn chế.  

Bên cạnh đó, còn một số tồn tại, hạn chế như: Lực lượng làm công tác thanh tra chuyên ngành lại thanh tra đối tượng, nội dung do chính đơn vị mình chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước, dẫn đến tính độc lập, hiệu quả trong hoạt động thanh tra không cao. Cán bộ tại bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành ở tổng cục, cục không được hưởng phụ cấp nghề như thanh tra viên, mặc dù tính chất nghề nghiệp tương đồng nhau. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra cho lực lượng làm tác thanh tra chuyên ngành ở tổng cục, cục, chi cục còn hạn chế, chủ yếu chỉ được bồi dưỡng về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành. Những điều này đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thanh tra trong thời gian qua.

Chính vì vậy, Luật Thanh tra sửa đổi cần quy định về tổ chức, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan thanh tra có tính độc lập cao hơn so với quy định hiện hành trong Luật Thanh tra năm 2010 để tránh việc cơ quan thanh tra phụ thuộc quá nhiều vào thủ trưởng cơ quan hành chính Nhà nước cùng cấp như hiện nay.

Để đảm bảo tính thống nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra của ngành Thanh tra nói chung, của thanh tra khối bộ, ngành nói riêng cần thiết phải kiện toàn hệ thống một cách tổng thể và đồng bộ về cơ cấu tổ chức trong toàn hệ thống. Đối với thanh tra khối bộ, sở: Không giao cho các cơ quan quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành do mình trực tiếp quản lý. Nghĩa là, ở Trung ương tập trung bộ phận tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành ở tổng cục, cục về thanh tra bộ; ở địa phương, lực lượng làm công tác thanh tra chuyên ngành ở chi cục tập trung về thanh tra sở. Cần có quy định thống nhất về tên gọi và số lượng một số “phòng cứng”, ngoài ra sẽ có một số phòng thanh tra chuyên ngành khác tùy theo lĩnh vực quản lý Nhà nước của bộ, ngành. Bên cạnh đó là biên chế tối thiểu cho các “phòng cứng” để đảm bảo hoạt động của cơ quan thanh tra. Có thể xem xét xác lập vị trí thanh tra bộ như mô hình cục thuộc bộ.

Thanh tra tỉnh Thanh Hóa: Theo dõi, giám sát, kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra và thanh tra lại còn vướng mắc

Thời gian qua, theo hướng dẫn quy định tại Điều 48, Điều 55 Luật Thanh tra năm 2010 và Thông tư 05/2015/TT-TTCP ngày 10/9/2015 về quy định giám sát hoạt động của đoàn thanh tra, Thanh tra tỉnh Thanh Hóa đã yêu cầu các tổ chức thanh tra trong toàn tỉnh báo cáo đánh giá từng tiêu chí bằng số liệu cụ thể, phân tích nguyên nhân tồn tại và biện pháp khắc phục qua kiểm tra, giám sát.

Khi nhận được các kết luận thanh tra của Thanh tra tỉnh và các sở, ngành, Chủ tịch UBND tỉnh đều ban hành văn bản chỉ đạo các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền thực hiện nghiêm túc các kiến nghị của cơ quan thanh tra, xử lý triệt để sai phạm về kinh tế, khắc phục các sơ hở trong công tác quản lý Nhà nước; chỉ đạo Sở Nội vụ phối hợp với Thanh tra tỉnh đôn đốc, kiểm tra việc xử lý kỷ luật đối với những tập thể, cá nhân có sai phạm; chỉ đạo chuyển hồ sơ đối với những vụ việc có dấu hiệu phạm tội sang cơ quan cảnh sát điều tra.

Văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh đều giao Thanh tra tỉnh theo dõi, đôn đốc, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và đều được các huyện, ngành thực hiện nghiêm túc (có quy định ngày báo cáo cụ thể). Những đơn vị thực hiện không đạt yêu cầu bị phê bình và yêu cầu phải làm lại. Bên cạnh đó, một số tổ chức thanh tra của tỉnh Thanh Hóa cũng đã tiến hành hoạt động kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra, qua đó, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, bảo đảm kết luận thanh tra chính xác, khách quan.

Tuy nhiên, đánh giá các quy định về theo dõi, giám sát, kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra và thanh tra lại của Luật Thanh tra, các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành cho thấy, hoạt động này vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn như: Chưa quy định chế tài xử lý cụ thể đối với người có trách nhiệm không thực hiện việc công khai hoặc công khai không đúng, không đủ nội dung của kết luận thanh tra theo đúng quy định pháp luật; thiếu quy định về các biện pháp cưỡng chế trong xử lý sau thanh tra, chế tài xử lý trong việc không chấp hành thực hiện kết luận thanh tra, nhất là chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự thủ tục, xử lý sau thanh tra.

Bên cạnh đó, Luật Thanh tra năm 2010 chủ yếu chỉ quy định các nội dung từ khi có quyết định thanh tra đến khi ban hành kết luận thanh tra, chưa quy định các nội dung liên quan đến việc chuẩn bị ra quyết định thanh tra và đôn đốc, kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra; chưa xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong phối hợp xây dựng chương trình kế hoạch thanh tra, theo dõi đôn đốc, kiểm tra kết luận thanh tra, thanh tra lại.

Luật Thanh tra và Nghị định số 86/2011/NĐ-CP đã có những quy định về thẩm quyền thanh tra lại, trình tự, thủ tục thanh tra lại. Qua khảo sát đến nay, có rất ít sở, ngành, địa phương đã thực hiện quy định này. Tuy nhiên, ở một số nơi tiến hành hoạt động thanh tra lại một số vụ việc thì khi áp dụng quy định về thanh tra lại cũng rất khó, vì nhiều nội dung thanh tra, phạm vi thanh tra, đối tượng của thanh tra lại, giá trị pháp lý của kết luận thanh tra cũng chưa được hướng dẫn cụ thể.

Thanh tra Bộ Y tế: Nên quy định về công khai kết luận thanh tra theo hướng “mở”

Thời gian qua, Bộ Y tế thực hiện công khai 100% kết luận thanh tra theo các hình thức như: Công bố tại cuộc họp hoặc gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra để tổ chức công bố công khai và thực hiện (đối tượng thanh tra ở xa và không có những kiến nghị phức tạp); đăng trên trang thông tin điện tử của Bộ Y tế; cung cấp theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; đăng công khai trên các báo, tạp chí theo quy định. Tại các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Y tế, kết luận thanh tra được đăng công khai trên cổng thông tin điện tử của đơn vị, đăng công khai trên các báo, tạp chí và được gửi cho đối tượng thanh tra để tổ chức công bố công khai và thực hiện.

Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, việc công bố công khai kết luận thanh tra tại cuộc họp với thành phần gồm người ra quyết định thanh tra hoặc người được ủy quyền, đại diện đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, có nhiều trường hợp không cần thiết, mang tính hình thức gây tốn kém cho ngân sách Nhà nước trong khi kinh phí rất hạn hẹp, nhất là đối với những cuộc thanh tra có nội dung không phức tạp và địa bàn ở xa trung tâm phải đi lại, ăn ở tốn kém.

Chính vì vậy, để kết luận thanh tra đảm bảo tính chính xác, khách quan và tạo cơ hội để đối tượng thanh tra giải trình, trong thời gian qua, Thanh tra Bộ Y tế đã áp dụng hình thức tổ chức buổi làm việc trực tiếp giữa người ra quyết định thanh tra, đoàn thanh tra với đối tượng thanh tra tại nơi được thanh tra để trao đổi về dự thảo kết luận thanh tra. Sau khi trao đổi dự thảo kết luận thanh tra, trường hợp đối tượng thanh tra có ý kiến khác thì cung cấp tài liệu, bằng chứng chứng minh để đoàn thanh tra nghiên cứu, tiếp thu, đảm bảo 100% các kết luận thanh tra là khách quan, minh bạch, chính xác và đều được đối tượng thanh tra chấp nhận, thực hiện nghiêm túc.

Trên cơ sở thực tiễn, Thanh tra Bộ Y tế đề xuất việc sửa đổi Luật Thanh tra năm 2010 phần quy định về công khai kết luận thanh tra theo hướng “mở”, đối với các cuộc thanh tra mà nội dung thanh tra không phức tạp thì cơ quan tiến hành thanh tra có thể gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra để thực hiện công khai mà không nhất thiết phải tổ chức công bố công khai tại cuộc họp với thành phần gồm người ra quyết định thanh tra hoặc người được ủy quyền, đại diện đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như hiện nay. Đồng thời đăng trên cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành kết luận thanh tra hoặc đăng báo công khai kết luận thanh tra.

Thanh tra Bộ Xây dựng: Còn chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra

Hiện nay, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán Nhà nước và thanh tra các bộ, ngành, thanh tra tỉnh có điểm trùng lắp, chưa rõ ràng, chưa phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính công. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra.

Thực tế hoạt động thanh tra ngành Xây dựng có sự chồng lấn với kiểm toán Nhà nước. Cụ thể: Nội dung kiểm toán Nhà nước theo Quyết định số 02/2017/QĐ-KTNN ngày 13/3/2017 của Tổng Kiểm toán Nhà nước về ban hành quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình trùng lắp cơ bản với nội dung thanh tra chuyên ngành Xây dựng quy định tại Nghị định số 26/2012/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành Xây dựng.

Việc xử lý chồng chéo về thời gian, nội dung, đối tượng thanh tra chưa được quy định cụ thể trong Luật Thanh tra ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra, đồng thời tác động đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Ví dụ: Chỉ trong 01 năm, một dự án phát triển nhà ở tại Hà Nội có thể là đối tượng thanh tra, kiểm tra của: Thanh tra Chính phủ (thanh tra việc thực hiện quản lý sử dụng quỹ đất, quỹ nhà để lại từ các  dự án đầu tư phát triển khu nhà ở, khu đô thị mới); Kiểm toán Nhà nước (thực hiện kiểm toán về nghĩa vụ tài chính và một số nội dung khác); Thanh tra Bộ Xây dựng (thanh tra về công tác quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch được duyệt), Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (thanh tra về việc sử dụng đất, thực hiện nghĩa vụ tài chính về sử dụng đất), Uỷ Kan kiểm tra Thành uỷ Hà Nội (kiểm tra trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thực hiện việc quản lý đối với hoạt động đầu tư xây dựng).

Do đó, đề nghị sửa đổi bổ sung Luật Thanh tra theo hướng: Chánh Thanh tra bộ chủ trì, phối hợp với chánh thanh tra tỉnh để xử lý chồng chéo.

Thanh tra tỉnh Tiền Giang: Bổ sung cho cơ quan thanh tra thẩm quyền ra quyết định kiểm kê, niêm phong khẩn cấp tài liệu

Theo quy định hiện hành của Luật Thanh tra (tại các Điều 46, 47, 48) và các văn bản hướng dẫn thực hiện thì người ra quyết định thanh tra cũng như trưởng đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra chỉ có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản. Riêng trưởng đoàn thanh tra hành chính còn có quyền ra quyết định niêm phong tài liệu của đối tượng thanh tra khi có căn cứ cho rằng có vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, quy định này tính hiệu quả không cao, vì khi đối tượng thanh tra có dấu hiệu vi phạm sẽ chủ động tìm cách đối phó, không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời, thậm chí có dấu hiệu tẩu tán, tiêu hủy tài liệu liên quan, song chúng ta cũng chưa có quy định đủ mạnh ràng buộc về trách nhiệm pháp lý về nghĩa vụ cung cấp hồ sơ của đối tượng thanh tra. Từ đó đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thanh tra, bởi vì phần lớn nội dung của các cuộc thanh tra hành chính hiện nay nói chung là tập trung vào lĩnh vực tài chính, ngân sách và xây dựng cơ bản; mà chứng cứ để chứng minh có hay không có các hành vi vi phạm trong các lĩnh vực này phần lớn là được thể hiện ở tài liệu, hồ sơ, chứng từ, hóa đơn tài chính.

Do đó, Luật Thanh tra sửa đổi cần bổ sung cho cơ quan thanh tra có thẩm quyền ra quyết định kiểm kê, niêm phong khẩn cấp tài liệu của đối tượng thanh tra ngay khi công bố quyết định thanh tra để khắc phục tình trạng đối tượng thanh tra tẩu tán, tiêu hủy, không cung cấp tài liệu chứng từ cho đoàn thanh tra. Đây là một trong những quyền quan trọng nhất của hoạt động thanh tra hành chính nói chung và quyền hạn của người ra quyết định thanh tra cũng như của trưởng đoàn thanh tra và thành viên đoàn thanh tra.

Thanh tra tỉnh Nghệ An: Đảm bảo các điều kiện thi hành Luật Thanh tra về tổ chức bộ máy, biên chế, kinh phí và các nguồn lực cần thiết cho cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

Từ thực tiễn ở địa phương thời gian qua cho thấy, một trong những nguyên nhân còn tồn tại trong thực hiện Luật Thanh tra là do nhận thức của một số lãnh đạo đối với vai trò, vị trí, thẩm quyền của cơ quan thanh tra còn hạn chế, dẫn đến ít quan tâm hoặc bó hẹp quyền hạn, chỉ tập trung vào nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nhận thức của một số tập thể, tổ chức, cá nhân đối với công tác thanh tra còn chưa đầy đủ, nên việc phối kết hợp, cung cấp hồ sơ, tài liệu, xác minh... còn chậm, thiếu nên hạn chế hiệu quả công tác thanh tra, kèo dài thời gian thanh tra. Bên cạnh đó, do công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh tra và các văn bản liên quan còn chưa đa dạng về nội dung và hình thức nên hiệu quả còn hạn chế. Lực lượng cán bộ thanh tra mỏng thường xuyên luân chuyển, số đơn vị thanh tra nhiều với địa bàn rộng đặc biệt là các huyện miền núi; hơn nữa trong quá trình thanh tra thường phải dừng lại, ưu tiên cho giải quyết khiếu nại đột xuất dẫn đến hiện tượng một số đoàn chậm tiến độ. 

Để khắc phục những bất cập này, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Luật Thanh tra, trước hết, về lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện: Các cấp, các ngành cần tiếp tục ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện công tác thanh tra; đồng thời tổ chức nhiều hoạt động đánh giá, khảo sát và nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra trong tình hình mới; đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức tuyên truyền pháp luật về thanh tra gắn với việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đến nhân dân, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, duy trì trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội.

Về các điều kiện đảm bảo thi hành Luật như tổ chức bộ máy, biên chế, kinh phí và các nguồn lực cần thiết cho các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, cần thường xuyên quan tâm kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra đủ về số lượng, đảm bảo về tiêu chuẩn nghiệp vụ; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra, đảm bảo ổn định  theo hướng chuyên nghiệp; tăng cường giáo dục, rèn luyện chính trị, tư tưởng, thái độ phục vụ nhân dân, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Quan tâm bồi dưỡng kiến thức cũng như có các diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm đối với các lĩnh vực thường xuyên phát sinh như đất đai, tài chính, giải phóng mặt bằng...

Hoạt động thanh tra, kiểm tra trong nhiều lĩnh vực đặc thù nên cần có trang thiết bị chuyên ngành để phục vụ công tác thanh tra, như kiểm tra về đo lường, chất lượng, lấy mẫu sản phẩm; việc đo chấn động sóng không khí để đánh giá tác động nổ mìn… có chính sách hỗ trợ về trang thiết bị hoặc kinh phí để tạo điều kiện cho cơ quan thanh tra thực hiện tốt hơn nữa chức năng nhiệm vụ được giao. Có quy định cụ thể về bố trí, cấp kinh phí trong trường hợp cơ quan thanh tra cần trưng cầu giám định.

Việc đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ cho thanh tra viên các cấp cũng cần được tiến hành thường xuyên để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Ngoài ra, cần tăng cường thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng gắn với thanh tra việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí và thực thi công vụ, nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức để kịp thời chấn chỉnh những tồn tại, khuyết điểm trong việc quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ công vụ; thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng tại địa phương, đơn vị được thanh tra, hạn chế được thái độ hạch sách, nhũng nhiễu gây phiền hà cho người dân, hạn chế đơn thư./.

Đỗ Quyên