Xét ở góc độ triết học duy vật biện chứng, mối quan hệ giữa kiểm soát thu nhập với PCTN là mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung: Cái chung (PCTN) tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng (kiểm soát thu nhập); cái riêng (kiểm soát thu nhập) luôn tồn tại trong mối liên hệ với các cái riêng khác (các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng khác nhau) nhằm hướng đến cái chung (PCTN).

Mối quan hệ biện chứng này có thể được tiếp cận, luận giải từ góc nhìn lý luận, pháp lý và thực tiễn. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, về phương diện lý luận

Kiểm soát thu nhập là thành phần quan trọng trong các giải pháp chống tham nhũng. Một mặt, kiểm soát thu nhập giúp tăng cường tính minh bạch và liêm chính của hệ thống quản lý hành chính công; mặt khác, đóng vai trò trong việc phát hiện và phòng ngừa hiện tượng tẩu tán tài sản và hỗ trợ việc thu hồi tài sản hay xử lý tham nhũng.

Tùy vào hệ thống chính trị, mô hình quản lý nhà nước mà mỗi quốc gia xây dựng cho mình cơ chế kiểm soát thu nhập riêng. Tuy nhiên, về cơ bản, cơ chế này có một số điểm chung sau: (1) Tăng cường tính minh bạch và niềm tin của người dân vào bộ máy hành chính công thông qua việc minh bạch hóa tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn có được trong quá trình công tác là hợp pháp và được công khai để đảm bảo rằng tiền thuế của người dân được chi đúng mục đích; (2) Giúp những người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước phòng ngừa xung đột lợi ích trong nội bộ cơ quan và giải quyết những vấn đề nảy sinh; qua đó, thúc đẩy tính liêm chính của các cơ quan quản lý nhà nước; (3) Giám sát, phòng ngừa các hành vi sai trái của những người có chức vụ, quyền hạn; qua đó giảm thiểu nguy cơ làm giàu bất chính. Bên cạnh đó, việc kiểm soát thu nhập cũng giúp cơ quan xét xử có thêm bằng chứng về các hoạt động bất hợp pháp.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Mặc dù, việc kiểm soát tài sản, thu nhập là một trong nhiều công cụ quan trọng góp phần phòng ngừa tham nhũng, nhưng chúng không thể đứng độc lập, đặc biệt là tại các quốc gia chưa có hệ thống thuế, ngân hàng hoàn chỉnh, hệ thống thực thi pháp luật còn yếu và tệ nạn tham nhũng phổ biến. Tuy nhiên, một cơ chế kiểm soát thu nhập được thiết kế tốt và hoạt động hiệu quả sẽ là thành phần chính trong hệ thống phòng, chống tham nhũng nói chung. Bởi lẽ, kiểm soát thu nhập của người có chức vụ nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình và cũng nhằm mục đích quản lý tập trung, thống nhất các thông tin về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và phát hiện, xử lý kịp thời trường hợp có thu nhập từ nguồn gốc bất hợp pháp, góp phần phòng ngừa, phát hiện và đẩy lùi tham nhũng.

Thứ hai, về phương diện pháp lý

“Cái chung” - PCTN theo cách tiếp cận trong chính sách PCTN của Đảng và Nhà nước ta đã được cụ thể hóa trong Luật PCTN năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2012) hiểu theo nghĩa rộng là chuỗi những biện pháp nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng xảy ra. “Cái riêng” - kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là một trong những nội dung then chốt, trọng tâm của nhóm phòng ngừa minh bạch tài sản, thu nhập (Điều 53 Mục 4 Luật PCTN) và có văn bản pháp lý riêng điều chỉnh (Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 về minh bạch tài sản, thu nhập). Tại dự thảo Luật PCTN (sửa đổi) đang được trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp tới, minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập đã được tách thành một chương mới riêng, quy định cụ thể về cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập; kê khai tài sản, thu nhập; theo dõi biến động tài sản, thu nhập; xác minh tài sản, thu nhập; xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được hợp lý(1). Việc quy định một chương mới hoàn toàn điều chỉnh riêng về minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập trong dự thảo Luật PCTN (sửa đổi) đã cho thấy tầm quan trọng cũng như mối liên hệ biện chứng của chế định này trong tổng thể các quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng.

Khi Luật PCTN sửa đổi chưa được thông qua, nhìn lại hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam thì có thể thấy rằng chưa có văn bản nào quy định cụ thể về cơ chế kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Có thể nói, chúng ta vẫn còn thiếu một cơ chế đồng bộ nhằm kiểm soát có hiệu quả thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Kiểm soát thu nhập không thể chỉ là một quy định độc lập, riêng lẻ mà cần có sự kết nối với các phương thức khác như quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, về nộp thuế thu nhập cá nhân, về thanh toán không dùng tiền mặt và quy định về việc nhận quà tặng, nộp lại quà tặng. Sự kết nối giữa các phương thức này nhằm giám sát, phát hiện và xác minh các khoản thu nhập có nguồn gốc bất hợp pháp của người có chức vụ, quyền hạn.

Về kiểm soát thu nhập nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích (XĐLI): Khung pháp lý chung về kiểm soát xung đột lợi ích đã được quy định trong một số luật, nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành như Luật Phòng, chống tham nhũng (ban hành 2005, sửa đổi năm 2007 và 2012), Luật Cán bộ, công chức 2008, Luật Viên chức 2010, Luật Đấu thầu 2013, Luật Thanh tra 2010, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Kiểm toán 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015... Mặc dù vậy, cho đến nay, pháp luật Việt Nam chưa đưa ra định nghĩa chung về xung đột lợi ích một cách rõ ràng. Tuy nhiên, bước đầu đã có một số quy định liên quan đến kiểm soát xung đột lợi ích. Các quy định về phòng ngừa tham nhũng đã tạo ra những công cụ cần thiết để kiểm soát xung đột lợi ích như: quy định về những điều không được làm tại Điều 37 Luật PCTN hay bước đầu đã có những quy định riêng mang tính nguyên tắc về kiểm soát quà tặng của cán bộ, công chức(2); những quy định bước đầu về hạn chế lợi ích kinh doanh cá nhân của cán bộ, công chức và người thân trong gia đình cán bộ, công chức ở một số vị trí nhất định...

Mới đây, Dự thảo Luật PCTN đã đưa ra khái niệm tại Điều 28: “XĐLI là tình huống mà trong đó cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hoặc không thực hiện một nhiệm vụ được giao có thể mang lại lợi ích không chính đáng cho cá nhân họ, cho người thân thích của họ”. Dự luật cũng quy định quy tắc ứng xử đối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; không bố trí những người có quan hệ gia đình cùng làm một số công việc dễ xảy ra tham nhũng; quy định cụ thể những việc mà người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được làm; các trường hợp không bố trí là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị... Như vậy, để kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ thực sự có hiệu quả, cần một cơ chế vừa để công khai những lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức vừa để kiểm soát thu nhập nhằm đảm bảo các tài sản thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn đều được kiểm soát và có thể giải trình, những tài sản không giải trình được nguồn gốc sẽ bị tịch thu công quỹ.

Về kiểm soát thu nhập nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình góp phần PCTN: Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình rất có ý nghĩa cho việc ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì động cơ vụ lợi. Không chỉ là minh bạch, trách nhiệm giải trình trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà còn bao gồm cả minh bạch, giải trình về nguồn gốc tài sản, gắn liền với việc công khai tài sản, thu nhập bởi lẽ “quy định về công khai thu nhập, tài sản là một lời nhắc nhở hiệu quả đối với các công chức về bảo đảm trách nhiệm giải trình đi kèm với chức trách(3); “Dù tôi rất ghét việc phải điền vào các mẫu kê khai tài sản nhưng đó là một lời nhắc nhở thường xuyên về nghĩa vụ đạo đức và bảo đảm trách nhiệm giải trình của tôi trước công chúng(4). Tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, người có trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cũng đã được đề cập đến trong nhiều văn bản như tại Nghị quyết số 21/NQ-CP về Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020; Luật PCTN; Nghị định 90/2013/NĐ-CP quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Thông tư 02/2014/TT-TTCP hướng dẫn Nghị định 90/2013/NĐ-CP quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao... Mới đây, Dự thảo Luật PCTN sửa đổi cũng đã đề cập trực tiếp đến xây dựng chế độ liêm chính, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, trong đó có trách nhiệm giải trình về thu nhập, tài sản và được nhấn mạnh là nội dung cơ bản, trụ cột trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, qua đó góp phần PCTN.

Về kiểm soát thu nhập nhằm quản lý tập trung, thống nhất các thông tin về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và phát hiện, xử lý kịp thời trường hợp có thu nhập từ nguồn gốc bất hợp pháp, góp phần phòng ngừa, phát hiện và đẩy lùi tham nhũng: Quy định hiện hành gắn việc quản lý bản kê khai tài sản với công tác quản lý cán bộ. Về cơ bản, cán bộ thuộc cơ quan nào sẽ do cơ quan đó tự quản lý, theo dõi. Việc công khai cũng tiến hành trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị, nên nhìn chung đã tạo sự “khép kín” trong quản lý, theo dõi việc kê khai tài sản, thu nhập. Hiện chỉ có những trường hợp thuộc diện cấp ủy đảng quản lý thì còn có thêm sự quản lý, theo dõi của cơ quan kiểm tra đảng cùng cấp. Tuy nhiên, việc giao gần như toàn bộ trách nhiệm quản lý, theo dõi về kê khai tài sản, thu nhập cho đơn vị phụ trách công tác tổ chức cán bộ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tạo gánh nặng cho đơn vị này, trong khi họ còn thiếu cán bộ, thiếu chuyên môn, nghiệp vụ về thanh tra, kiểm tra để có thể phát hiện dấu hiệu vi phạm hoặc tổ chức kiểm tra, xác minh. Do vậy, dự thảo Luật PCTN sửa đổi đã có sự thay đổi căn bản với việc quy định về các cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập. Bước đầu hình thành các hệ thống quản lý tập trung việc kê khai tài sản trong đó, có quản lý theo mô hình “bán tập trung” ở Trung ương và quản lý theo mô hình tập trung với 2 hệ thống quản lý ở địa phương.

Ngoài ra, để tăng cường hiệu quả theo dõi, giám sát, kiểm tra, xác minh thông tin về tài sản, thu nhập phục vụ công tác quản lý cán bộ cũng như tăng khả năng phát hiện dấu hiệu bất thường, Dự thảo Luật PCTN sửa đổi đã quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu về bản kê khai tài sản, thu nhập trong đó Thanh tra Chính phủ phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương tích hợp, xây dựng, thống  nhất quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về bản kê khai tài sản, thu nhập trong phạm vi cả nước; Thanh tra Chính phủ chủ trì, điều phối và hướng dẫn cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập trong việc xây dựng, quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu về bản kê khai tài sản, thu nhập. Có thể thấy rằng, những quy định mới trong dự luật thực chất nhằm hướng tới việc kiểm soát được tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; phát hiện, xử lý kịp thời trường hợp có thu nhập từ nguồn gốc bất hợp pháp, góp phần phòng ngừa, phát hiện và đẩy lùi tham nhũng.

Thứ ba, về phương diện thực tiễn

Trong báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN, từ năm 2007 đến năm 2017, các bộ, ngành địa phương đã tích cực triển khai thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập. Trong vài năm đầu, việc thực hiện còn chưa đồng đều, có nơi chậm triển khai thực hiện, có nơi gặp vướng mắc, khó khăn do nhận thức của các cấp, các ngành chưa nhất quán, chưa thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác này. Thời gian sau, với sự nỗ lực, quyết tâm cao của các cấp, các ngành, quy định của pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập đã được bổ sung, hoàn thiện. Cùng với việc tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, xử lý của cơ quan chức năng nên việc kê khai tài sản đã có tiến bộ rõ rệt và dần đi vào nền nếp. Đến nay, tỷ lệ kê khai tài sản, thu nhập đúng thời hạn đã đạt 99,5%, công khai đạt tỷ lệ 98,3%. Qua 10 năm đã xác minh được 4.859 trường hợp, phát hiện, xử lý kỷ luật 17 người kê khai tài sản không trung thực. Ngoài ra, còn có 70 người bị xử lý kỷ luật do vi phạm quy định về tổ chức thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập(5).

Bên cạnh những kết quả đạt được nói trên, trong quá trình thực hiện pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập góp phần tích cực vào quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng thì quá trình kiểm soát thu nhập còn nhiều vướng mắc, tồn tại. Là mối quan hệ biện chứng nên giữa kiểm soát thu nhập và phòng, chống tham nhũng luôn tồn tại mối quan hệ nguyên nhân - kết quả. Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đều cho thấy, có không ít nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, một trong những nguyên nhân chính là Nhà nước không giám sát được những biến động về tài sản của người có chức vụ, quyền hạn, không phát hiện, xác minh và xử lý được các khoản thu nhập có nguồn gốc bất hợp pháp của nhóm đối tượng này.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, tác động đến hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, vì kiểm soát thu nhập là tổng hợp của nhiều phương thức khác nhau nhằm theo dõi biết được biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nên chủ yếu là nguyên nhân về kê khai, xác minh tài sản, thu nhập; về thực hiện thuế thu nhập cá nhân; về thanh toán không dùng tiền mặt, về việc nhận quà tặng và nộp lại quà tặng.

Cụ thể, về kê khai và xác minh tài sản thu nhập: Hệ thống kê khai bao trùm trên diện rộng các cán bộ, công chức thuộc đối tượng kê khai theo quy định của pháp luật và bản kê khai được nộp bằng văn bản về bộ phận nhân sự nơi người kê khai làm việc. Quy trình kê khai tài sản, bao gồm cả khâu xác minh được triển khai theo mô hình phân cấp. Hàng năm, các bộ phận nhân sự của vài nghìn cơ quan nhà nước, các ban đảng hoặc các cơ quan hành chính ở Việt Nam thu thập các bản kê khai. Trong khi đó chỉ có vài trăm đơn vị thanh tra trong mỗi cơ quan nhà nước, các ban đảng hoặc các cơ quan hành chính chịu trách nhiệm thực hiện xác minh. Việc xác minh phần lớn tập trung vào sự tuân thủ đối với yêu cầu về nộp bản kê khai. Các đơn vị thanh tra cũng có quyền đánh giá sự cân đối tài chính của các bản kê khai nhưng cho tới nay có rất ít kinh nghiệm thực tế về việc thực hiện xác minh, đánh giá sâu về sự mất cân đối tài chính này. Ngoài ra, các bản kê khai không được công khai cho tất cả mọi người, dù là trực tuyến hay khi có yêu cầu cá nhân bằng văn bản. Các chế tài xử phạt chỉ mang tính kỷ luật, trừ khi có bất kỳ tội phạm nào khác như tội hối lộ có liên quan tới một sự bất thường trong bản kê khai.

Về thực hiện thuế thu nhập cá nhân: Việc quản lí thu nhập của cá nhân hiện nay còn nhiều hạn chế, cơ quan thuế không có khả năng kiểm soát tốt TNCN. Một trong những nguyên nhân cơ bản là hiện nay nước ta chưa có hệ thống các quy định pháp lí cần thiết để minh bạch thu nhập. Với những cố gắng rất lớn của cơ quan lập pháp, Luật phòng, chống tham nhũng hay Nghị định số 78/2013/NĐ-CP được ban hành này đã tạo cơ sở pháp lí để một số chủ thể phải có nghĩa vụ kê khai tài sản, góp phần kiểm soát thu nhập. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, các văn bản này nhằm kiểm soát và ngăn chặn những thu nhập không hợp pháp chứ không phải nhằm quản lí nguồn thu nhập hợp pháp để xác định nghĩa vụ nộp thuế. Do đó, những chủ thể có nghĩa vụ kê khai thu nhập rất hẹp, chỉ bao gồm những chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó, thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán của người Việt Nam được coi là một trở ngại đáng kể cho công tác hành thu thuế nói chung và đối với thuế TNCN nói riêng. Việc sử dụng tiền mặt phổ biến làm cho công tác giám sát thu nhập của cơ quan chức năng bị hạn chế, đồng thời tạo cơ hội cho các chủ thể che giấu nguồn thu nhập hoặc dịch chuyển tài sản, từ đó không khai báo để nộp thuế theo quy định.

Về thanh toán không dùng tiền mặt: Thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay đã bắt đầu phát triển, nhưng chưa tương xứng với cơ sở hạ tầng sẵn có và yêu cầu của thực tiễn; tiền mặt vẫn được sử dụng nhiều, số lượng tiền mặt trong lưu thông tiếp tục tăng lên; phần lớn các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư vẫn bằng tiền mặt. So với các nước thì Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nước sử dụng nhiều tiền mặt. Thực trạng này xuất phát từ cơ sở hạ tầng cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu, nhất là tại các vùng nông thôn. Máy ATM được lắp đặt chủ yếu tại thị trấn, huyện, là nơi tập trung đông dân cư và có điều kiện thuận lợi. Bên cạnh đó, chưa có nhiều tài khoản trả lương được sử dụng để thực hiện các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; chất lượng cung ứng dịch vụ ATM của các ngân hàng chưa đồng đều, dịch vụ chăm sóc khách hàng có nơi, có lúc chưa thật tốt.

Về việc nhận quà tặng và nộp lại quà tặng: Từ năm 2006 - 2015, có 879 cán bộ, công chức nộp lại quà tặng với tổng giá trị 3,3 tỷ đồng; có 10 trường hợp vi phạm được phát hiện và xử lý(6). Việc thực hiện quy định này chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao và trên thực tế cũng rất khó kiểm soát do phụ thuộc nhiều vào tính tự giác, đạo đức của cán bộ, công chức; việc nhận quà, tặng quà có nhiều loại hình, thường diễn ra ở ngoài trụ sở làm việc và đối tượng nhận quà là vợ, con, người thân cán bộ, công chức nên rất khó kiểm soát...

Có thể thấy rằng, kiểm soát thu nhập là một trong những thành phần quan trọng trong xây dựng các giải pháp tổng thể về PCTN. Đó là tổng hợp các biện pháp phòng ngừa tham nhũng như: kê khai, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập; trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm, nộp lại quà tặng, trả lương qua tài khoản, hạn chế sử dụng tiền mặt, đánh thuế TNCN. Mặt khác, kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nếu được thực hiện đồng bộ với các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng khác còn là một trong những công cụ quan trọng góp phần tăng cường tính minh bạch của bộ máy nhà nước, sự liêm chính của cán bộ, công chức; đồng thời, qua đó, giúp các cơ quan quản lý nhà nước giám sát, phòng ngừa các hành vi sai trái và ngăn chặn, giảm thiểu nguy cơ làm giàu bất chính của cán bộ, công chức./.

Ths. Tạ Thu Thủy

Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra - TTCP

 

Tài liệu tham khảo:   

(1) Xem thêm Chương III (từ Điều  32 đến Điều 59) của dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) tại http://duthaoonline.quochoi.vn/ DuThao/ Lists /DT_DUTHAO_LUAT/ View_Detail.aspx?ItemID=1241&LanID=1525&TabIndex=1

(2) Xem thêm tại Điều 40 Luật Phòng, chống tham nhũng; Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, ban hành quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.

(3) STAR: Việc công, lợi ích tư bảo đảm trách nhiệm giải trình thông qua công khai thu nhập, tài sản, tr.7

(4) Phát biểu của Thẩm phán Toà tối cao Hoa Kỳ Stephen G.Breyer tại Diễn đàn Toàn cầu chống tham nhũng năm 1999

(5) Báo cáo số 330/BC-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 9 năm 2016 về Tổng kết 10 thi hành Luật PCTN

(6) Báo cáo số 330/BC-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 9 năm 2016 về Tổng kết 10 thi hành Luật PCTN