Trong bài viết này, PV muốn đề cập tới nội dung liên quan tới kinh nghiệm phân định TQTT trong hoạt động tố tụng hình sự và trong hoạt động kiểm toán mà ThS. Lê Văn Đức, Viện Khoa học Thanh tra trình bày tại buổi nghiệm thu đề tài cấp cơ sở "Phân định thẩm quyền trong hoạt động thanh tra".

Cơ chế phân định thẩm quyền của Chánh án Toà án?     

Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Quá trình giải quyết vụ án hình sự sơ thẩm được chia thành các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự. Chủ thể tham gia vào các hoạt động tiến hành tố tụng là cơ quan và người tiến hành tố tụng. Bản chất của việc phân định thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự là sự phân định thẩm quyền quản lý hành chính (của người đứng đầu cơ quan điều tra, Toà án, Viện Kiểm sát) với thẩm quyền tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự. ThS. Lê Văn Đức tập trung phân tích cơ chế phân định thẩm quyền của Chánh án Toà án, cơ chế này phản ánh rõ nét nhất đặc trưng của việc phân định giữa thẩm quyền hành chính nhà nước với thẩm quyền tố tụng hình sự khi giải quyết một vụ án cụ thể.

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Chánh án Toà án vừa là người tiến hành tố tụng, vừa là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh án Tòa án được quy định tại Điều 44 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi vắng mặt, Chánh án Tòa án ủy quyền cho một Phó Chánh án Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án. Phó Chánh án Tòa án phải chịu trách nhiệm trước Chánh án Tòa án về nhiệm vụ được ủy quyền. Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Phó Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định của Chánh án, trừ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của mình.

Có thể nói, việc phân công phụ trách công việc giữa Chánh án và các Phó Chánh án là sự phân công nhiệm vụ thuộc thẩm quyền hành chính nhà nước để duy trì hoạt động theo chức năng của Toà án. Thông thường, Chánh án chỉ thực hiện chức năng của người đứng đầu Toà án (với tư cách là một cơ quan nhà nước) phụ trách chung và có thể phụ trách trực tiếp một số công việc, như công tác cán bộ, nhân sự; tài chính... Phó Chánh án phụ trách các công việc liên quan đến chuyên môn, phụ trách nội bộ, phụ trách về hình sự, phụ trách về dân sự... Việc phân công công việc giữa Chánh án và cấp Phó của mình mang tính chất dài hạn hoặc hàng năm và có thể được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản và phải được thông báo cho cán bộ, công chức trong cơ quan.

leftcenterrightdel
Đề tài "Phân định thẩm quyền trong hoạt động thanh tra" của ThS. Lê Văn Đức được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc

Phân định thẩm quyền trong hoạt động kiểm toán

Trong hoạt động kiểm toán, việc phân định thẩm quyền giữa các chủ thể được pháp luật kiểm toán quy định rất đầy đủ và rõ ràng về phương thức thực hiện thẩm quyền cũng như việc xác định trách nhiệm của từng chủ thể. Trước tiên là việc ra quyết định kiểm toán, theo quy định của Quy trình kiểm toán, sau khi kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch kiểm toán chi tiết được phê duyệt, Tổng Kiểm toán nhà nước (hoặc người được ủy quyền) ký quyết định kiểm toán. Như vậy, ngay từ khâu ra quyết định, pháp luật kiểm toán đã quy định cơ chế “ủy quyền” ban hành quyết định. Người được ủy quyền thông thường là Phó Tổng kiểm toán hoặc Kiểm toán trưởng kiểm toán khu vực.

Trong hoạt động kiểm toán, pháp luật về kiểm toán đã quy định cụ thể trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán. Theo đó, chủ thể này chịu trách nhiệm trước Kiểm toán trưởng về hoạt động của Đoàn kiểm toán; chịu trách nhiệm truớc pháp luật về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của những đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán; chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kiểm toán của thành viên Đoàn kiểm toán; chịu trách nhiệm về quyết định, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ đối với thành viên trong Đoàn kiểm toán từ Tổ trưởng Tổ kiểm toán trở xuống. Rõ ràng, pháp luật về kiểm toán đã xác định rõ trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán theo tính chất của công việc, đó là trách nhiệm về chuyên môn, trách nhiệm trước hành vi của cấp dưới.

Sau khi kết thúc hoạt động kiểm toán trực tiếp, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm tập hợp đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp và kết quả kiểm toán để lập dự thảo báo cáo kiểm toán theo quy định của Kiểm toán nhà nước. Báo cáo kiểm toán phải bảo đảm các yêu cầu chung quy định tại Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán nhà nước và theo mẫu quy định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở báo cáo kiểm toán do Truởng đoàn kiểm toán trình, Kiểm toán trưởng xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán. Trước khi thông qua báo cáo kiểm toán trình Tổng Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán trưởng lựa chọn nhân sự để thẩm định dụ thảo báo cáo kiểm toán.

Như vậy, trên cơ sở Báo cáo kiểm toán đã được hoàn thiện, Tổng Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán. Để giúp Tổng Kiểm toán nhà nước xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán, Tổng Kiểm toán nhà nước giao cho các đơn vị có chức năng kiểm soát, thẩm định dự thảo báo cáo kiểm toán. Đối với những dự thảo báo cáo kiểm toán quan trọng, các đơn vị được giao thẩm định tham mưu cho Tổng Kiểm toán nhà nước thành lập Hội đồng kiểm toán để giúp Tổng Kiểm toán nhà nước thẩm định dự thảo báo cáo kiểm toán.

Qua nghiên cứu hoạt động kiểm toán, ThS. Lê Văn Đức nhận định, có 2 vấn đề lớn nổi lên có thể nghiên cứu và áp dụng trong hoạt động thanh tra. Thứ nhất, pháp luật kiểm toán đã phân định thẩm quyền giữa Tổng Kiểm toán nhà nước và Phó Tổng kiểm toán nhà nước trong hoạt động kiểm toán thông qua cơ chế ủy quyền. Có thể thấy được, cơ chế này phù hợp với việc thực hiện thẩm quyền thực thi pháp luật (trong hoạt động thanh tra, kiểm toán), còn cơ chế phân công nhiệm vụ phù hợp với hoạt động quản lý, điều hành hoạt động hành chính của cơ quan, đơn vị. Thứ hai, pháp luật kiểm toán đã phân định thẩm quyền của Trưởng đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng với Tổng Kiểm toán nhà nước thông qua việc hai chủ thể đầu là người trịu trách nhiệm về nội dung Báo cáo kiểm toán (cả hai chủ thể này được trao thẩm quyền ký Báo cáo kiểm toán).

“Với tư cách là người trực tiếp tham gia, chỉ đạo hoạt động của kiểm toán thì Trưởng đoàn kiểm toán là người nắm rõ nhất nội dung của Báo cáo kiểm toán. Còn đối với Kiểm toán trưởng, là người trực tiếp chỉ đạo hoạt các động chung liên quan đến chuyên môn, con người, được pháp luật trao thẩm quyền ký Báo cáo kiểm toán cùng với Trường đoàn kiểm toán. Chủ thể này mặc dù không trực tiếp tham gia Đoàn kiểm toán nhưng có trách nhiệm liên quan đến công tác tổ chức Đoàn kiểm toán, từ khâu khảo sát xây dựng đề cương đến việc được trao quyền sử dụng cơ chế thẩm định dự thảo Báo cáo kiểm toán nên là người có trách nhiệm cùng với Trưởng đoàn kiểm toán ký Báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung của báo cáo kiểm toán.” ThS. Lê Văn Đức khẳng định./.

Lan Anh (Lược ghi)