Trong 9 tháng đầu năm 2018, Thanh tra Bộ đã thực hiện 19 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành (03 cuộc theo kế hoạch, 16 cuộc đột xuất) về các lĩnh vực: An toàn thực phẩm, quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, hoạt động kiểm dịch động, thực vật, chứng nhận chất lượng sản phẩm hàng hóa. Thanh tra Bộ đã ban hành 81 quyết định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) với tổng số tiền xử phạt VPHC là 2,664 tỷ đồng (theo lĩnh vực: giống cây trồng: 71 triệu đồng; phân bón: 394,92 triệu đồng; bảo vệ thực vật: 659,2 triệu đồng; chăn nuôi: 26,13 triệu đồng; thú y: 482,62 triệu đồng; thủy sản: 60 triệu đồng; an toàn thực phẩm: 230 triệu đồng; phòng, chống thiên tai: 740 triệu đồng), đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật).

Một số nội dung thanh tra trọng tâm trong thời gian gần đây là các vi phạm về sử dụng chất cấm, hóa chất công nghiệp trong thức ăn chăn nuôi, tiêm thuốc an thần vào heo trước khi giết mổ, bơm tạp chất vào tôm, sản xuất kinh doanh ớt bột nhiễm aflatoxin, xả thải vào công trình thủy lợi, vi phạm các quy định pháp luật về đê điều. 

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, thanh tra ngành nông nghiệp gặp phải không ít những vướng mắc liên quan đến các quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành.

Thứ nhất, đối với các quy định pháp luật về thanh tra, cơ chế chính sách, chế độ đối với công chức thực hiện thanh tra chuyên ngành.

Thực tiễn cho thấy, các cuộc thanh tra chuyên ngành về vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm (VTNN, ATTP) thường chỉ có hiệu quả khi tiến hành thanh tra theo hình thức đột xuất. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Thanh tra hiện hành, muốn tiến hành thanh tra đột xuất phải có một trong các yếu tố sau: “khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật; theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao”. Các yếu tố trên phù hợp với cuộc thanh tra hành chính đột xuất, còn với thanh tra chuyên ngành về VTNN, ATTP cần thực hiện thường xuyên hơn và mỗi cuộc thanh tra, kiểm tra chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn nên việc quy định như trên gây khó khăn về cơ sở pháp lý cũng như giảm tính chủ động của hoạt động thanh tra chuyên ngành.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, để triển khai cuộc thanh tra chuyên ngành đột xuất có hiệu quả thì việc nắm được thông tin về đối tượng rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định thành công hay không của cuộc thanh tra. Đối tượng thanh tra chuyên ngành nông nghiệp và PTNT thường là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ không thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của cơ quan nhà nước nên hoạt động thu thập thông tin gặp nhiều khó khăn, nhạy cảm và dễ bị lộ. Hơn nữa, chưa có quy định cụ thể về phương pháp, quy trình thu thập thông tin nên hiệu quả của quá trình này phụ thuộc nhiều vào kỹ năng, nghiệp vụ của người được cử đi thu thập thông tin.

Ngoài ra, trong Luật Thanh tra 2010, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP và NĐ 07/2012/NĐ-CP có tách riêng hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Tuy nhiên, Thông tư 05/2014/TT-TTCP về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra lại quy định thành một quy trình chung là chưa phù hợp. Cụ thể:

Các cuộc thanh tra chuyên ngành về VTNN, ATTP thường được tiến hành theo hình thức đột xuất, trong thời gian ngắn, đòi hỏi kịp thời phát hiện ngay hành vi vi phạm. Việc quy định về trình tự, thủ tục một cuộc thanh tra chuyên ngành hiện chỉ phù hợp với hoạt động thanh tra hành chính, thanh tra kinh tế - xã hội. Ví dụ, Thông tư 05/2014/TT-TTCP quy định: Trưởng đoàn thanh tra thông báo việc công bố quyết định thanh tra đến đối tượng thanh tra; Trưởng đoàn thanh tra thông báo bằng văn bản về thời gian kết thúc thanh tra tại nơi được thanh tra và gửi cho đối tượng thanh tra biết; Tổ chức cuộc họp công khai kết luận thanh tra với thành phần gồm người ra quyết định thanh tra, đại diện Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra.

Bên cạnh đó, khi tiến hành một cuộc thanh tra chuyên ngành theo kế hoạch, quy định về việc phải gửi quyết định thanh tra đến đối tượng thanh tra trước khi tiến hành thanh tra đã “đánh động” khiến đối tượng thanh tra xóa dấu vết vi phạm, gây khó khăn cho hoạt động thanh tra. Ngoài ra, quy định về việc công bố quyết định thanh tra trước khi thanh tra đột xuất cũng gây nên những trở ngại tương tự.

Luật Thanh tra 2010 chưa quy định chế tài cụ thể để xử lý hành vi không thực hiện yêu cầu, kết luận, quyết định xử lý về thanh tra. Mặc dù hành vi này ít xảy ra đối với cuộc thanh tra hành chính nhưng lại thường xảy ra đối với các cuộc thanh tra chuyên ngành.

Pháp luật về thanh tra chuyên ngành cũng chưa quy định cụ thể về hình thức thanh tra thường xuyên. Điều 37 Luật Thanh tra hiện hành quy định các hình thức thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên, thanh tra độc lập và thanh tra đột xuất. Tuy nhiên, Nghị định 07/2012/NĐ-CP chỉ quy định hình thức thanh tra chuyên ngành theo kế hoạch và thanh tra chuyên ngành đột xuất. Việc thực hiện thanh tra chuyên ngành thường xuyên hiện vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, gây nên những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.

Thứ hai, đối với pháp luật về xử lý VPHC cũng có khá nhiều bất cập.

Một là, cách xác định đối tượng bị xử lý VPHC chưa rõ ràng, chưa bao quát hết các chủ thể. Trong đó, quy định về các nhóm chủ thể VPHC trong Luật Xử lý VPHC chưa bao quát hết các chủ thể được pháp luật công nhận đang tồn tại trong thực tiễn. 

Theo Pháp lệnh Xử lý VPHC việc phân định này không quá phức tạp vì mức phạt của cá nhân và tổ chức như nhau. Nhưng theo Luật Xử lý VPHC thì mức phạt của tổ chức gấp hai lần mức xử phạt của cá nhân nên việc xác định rõ cá nhân hay tổ chức vi phạm sẽ đảm bảo việc áp dụng pháp luật chính xác. 

Theo quy định tại khoản 10, Điều 2 Luật Xử lý VPHC, “tổ chức là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật”. Với những chủ thể được liệt kê này, tưởng chừng như đã đầy đủ và bao quát, tuy nhiên trong thực tiễn, các chủ thể là hộ kinh doanh cá thể rất khó xác định là tổ chức hay cá nhân khi họ VPHC. Theo quy định tại Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 thì “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Những dấu hiệu này cho thấy, hộ kinh doanh được chia thành ba loại, căn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ; và (3) hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ. Vì vậy, trong trường hợp này, hộ kinh doanh cá thể có thể được hiểu là cá nhân hay tổ chức.

Hai là, bất cập trong quy định về quyền giải trình của người vi phạm, thẩm quyền xử phạt VPHC và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Mặc dù, quyền giải trình của người VPHC được quy định trong Luật Xử lý VPHC thể hiện rõ ý nghĩa trong việc hạn chế bớt khiếu nại, cũng như cho các chủ thể có liên quan được quyền thể hiện quan điểm, tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình hoặc thông qua người đại diện hoặc luật sư. 

Bên cạnh đó, quy định về các nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt VPHC có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ là căn cứ, cơ sở để Chính phủ dựa vào xây dựng các quy định về thẩm quyền đối với từng hành vi VPHC trên các lĩnh vực trong nghị định mà còn là căn cứ pháp lý có giá trị áp dụng trực tiếp trong trường hợp nghị định quy định không rõ ràng hoặc trái với các nguyên tắc đã được ghi nhận trong Luật Xử lý VPHC.

Tuy nhiên, những nội dung trên chưa được quy định cụ thể, rõ ràng trong Luật Xử lý VPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Ngoài ra, trong hệ thống pháp luật chuyên ngành nông nghiệp, còn có những quy định chưa phù hợp với thực tiễn dẫn đến khó khăn khi xử lý vi phạm; Quy định còn thiếu rõ ràng, mâu thuẫn với văn bản của một số bộ, ngành khác có liên quan dẫn đến khó căn cứ vào đó để ban hành kiến nghị, kết luận thanh tra; Quá trình ban hành văn bản hướng dẫn các văn bản cấp trên còn chậm và hệ thống các văn bản pháp luật có tính ổn định chưa cao.

Những vướng mắc, bất cập nói trên là một trong những nguyên nhân căn bản khiến công tác thanh tra chuyên ngành nông nghiệp thời gian qua không tránh khỏi một số tồn tại, hạn chế. Để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra chuyên ngành nông nghiệp, Thanh tra Bộ Nông nghiệp đưa ra một số kiến nghị, giải pháp như sau:

1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh tra chuyên ngành và tổ chức thực thi hiệu quả các quy định pháp luật, chính sách. Trong đó, kiến nghị Thanh tra Chính phủ sớm sửa đổi các quy định về hoạt động thanh tra chuyên ngành, chế độ chính sách đối với công chức thanh tra chuyên ngành; Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 33/2016/TT-BNNPTNT quy định về trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra chuyên ngành và trang phục, thẻ công chức thanh tra chuyên ngành nông nghiệp và PTNT; đẩy nhanh tiến độ cấp thẻ công chức thanh tra chuyên ngành. Kiến nghị sửa đổi các nghị định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng tăng mức xử phạt VPHC.

2. Cấp có thẩm quyền cần chỉ đạo toàn hệ thống chính trị cùng vào cuộc quyết liệt, bố trí nhân sự, phương tiện, kinh phí triển khai; phối hợp với các đoàn thể để kiểm tra, giám sát. Điều này đảm bảo khi Bộ chủ quản triển khai quyết liệt thì tất cả các địa phương cùng vào cuộc.

3. Kiến nghị cấp có thẩm quyền bổ sung biên chế cho công chức làm công tác thanh tra chuyên ngành tại các Tổng cục, Cục thuộc Bộ, các Chi cục thuộc Sở; Đồng thời, việc tuyển chọn cán bộ làm công tác thanh tra chuyên ngành cần phải nghiêm túc, đảm bảo điều kiện về đạo đức, chuyên môn, kinh nghiệm và là người có bản lĩnh. 

4. Xây dựng Quy chế phối hợp giữa Thanh tra Bộ và Thanh tra các Tổng cục, Cục với Thanh tra Sở các địa phương. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành nông nghiệp với các lực lượng công an như C03, C05, lực lượng quản lý thị trường để nắm bắt thông tin về đối tượng có dấu hiệu vi phạm; Phối hợp với cơ quan quản lý tại địa phương để nắm bắt tình hình, thông tin về đối tượng. Ngoài ra, tìm hiểu thông tin qua các hiệp hội, ngành nghề mà đối tượng đó hoạt động.

5. Chuyển hướng hoạt động thanh tra chuyên ngành từ hình thức thanh tra theo kế hoạch sang thanh tra đột xuất. Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở xây dựng riêng kế hoạch về thanh tra chuyên ngành (ngoài Kế hoạch thanh tra theo quy định của Thanh tra Chính phủ), trình thủ trường cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt, làm cơ sở cho tiến hành các cuộc thanh tra chuyên ngành đột xuất, cũng như đảm bảo nguồn kinh phí, phương tiện.

Thực tế, hoạt động thanh tra về vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản mang tính chất là kiểm tra chuyên ngành. Vì vậy, cần xây dựng quy trình kiểm tra chuyên ngành về chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và giao chức năng kiểm tra chuyên ngành cho Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thanh tra Sở Nông nghiệp và PTNT và các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

6. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức, tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, cần kiểm soát kỹ các thông tin, đảm bảo chính xác, đúng pháp luật. Bên cạnh đó, tăng cường tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra chuyên ngành trong phạm vi toàn quốc; Tổng hợp thành các tài liệu để phổ biến rộng rãi đến lực lượng thanh tra chuyên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn toàn quốc.

Hàng năm, Thanh tra Bộ phối hợp với Trường Cán bộ Thanh tra tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thanh tra chuyên ngành cho công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành của các Tổng cục, Cục thuộc Bộ, Chi cục thuộc Sở theo hướng nâng cao, chia sẻ kinh nghiệm thực tế.

7. Đề nghị Bộ Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc trích lại kinh phí từ nguồn xử phạt VPHC theo Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, cần tạo được sự ủng hộ của thủ trưởng đơn vị, sự quan tâm tạo điều kiện về kinh phí cho công tác thanh tra chuyên ngành. Ngoài ra, tìm cách huy động từ nguồn lực ủng hộ bên ngoài ngân sách nhà nước.

8. Cần sự có sự quan tâm, động viên kịp thời của thủ trưởng các đơn vị đối với lực lượng công tác thanh tra chuyên ngành. Đề nghị khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc đột xuất về công tác thanh tra chuyên ngành.

9. Thúc đẩy sản xuất hàng hóa; tổ chức lại sản xuất; phát triển hợp tác xã kiểu mới; sản xuất theo chuỗi, có xác nhận chất lượng; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, nhất là doanh nghiệp công nghệ cao; tổ chức truy xuất nguồn gốc; kết nối giữa người sản xuất - kinh doanh, buôn bán, tiêu thụ. Đồng thời, nâng cao hơn nữa năng lực và trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhà nước; trách nhiệm của người thực thi pháp luật./.

  Ths. Nguyễn Văn Tiến

Q. Chánh Thanh tra

 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn