Đó là về chủ thể giải quyết khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, về tổ chức đối thoại, thời hiệu khiếu nại để thống nhất giữa Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính... Cụ thể như sau:

1. Về chủ thể khiếu nại

Tại Điều 2 - Giải thích từ ngữ, không có quy định chủ thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam trong Khoản 1 và Khoản 2. Tuy nhiên, tại Khoản 1, Điều 3 lại quy định: “Khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam và việc giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”. Như vậy, theo quy định này thì cá nhân là người nước ngoài vẫn có quyền khiếu nại và vẫn thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Khiếu nại mà Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 của Luật chưa đề cập.

2. Về giải quyết khiếu nại

Khoản 6 Điều 2 quy định: “Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại”; Khoản 1, Điều 7 quy định: “ Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, thì người khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính”. Tuy nhiên, từ Điều 17 đến Điều 26 chỉ quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại là của cá nhân người đứng đầu trong cơ quan hành chính Nhà nước, chưa có quy định thẩm quyền xem xét, giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước. Do đó, việc quy định như vậy là chưa đầy đủ và đồng bộ.

Theo Luật Khiếu nại, công dân chỉ có quyền khiếu nại đối với quyết định hành chính mang tính cá biệt; chưa có quy định cho công dân có quyền khiếu nại đối với quyết định hành chính mang tính quy phạm của cơ quan Nhà nước. Đây là quy định làm hạn chế đối với quyền khiếu nại của công dân, cần sửa đổi, bổ sung.  

Điểm 2 Khoản 1 Điều 7, Điều 18, Điều 19, Điều 21 thì khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn mà không được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lần hai đến thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu. Tuy nhiên, tại điểm 2 Khoản 1 Điều 33 quy định: “Trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu là không phù hợp (vì không có giải quyết khiếu nại lần đầu thì đâu có quyết định để kèm theo). Quy định này cũng cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa, nguồn internet

Điều 30 và Điều 39 Luật Khiếu nại quy định “... người giải quyết khiếu nại tiến hành đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại...”. Tuy nhiên, tại Điều 21 Thông tư số 07 của Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại quy định: “Đối với khiếu nại lần 2, người giải quyết khiếu nại hoặc người có trách nhiệm xác minh tổ chức đối thoại”. Việc mở rộng đối tượng có thẩm quyền, trách nhiệm đối thoại đã tháo gỡ được một phần khó khăn trong thực tế hiện nay tại địa phương, vì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là thủ trưởng các cơ quan hành chính các cấp rất khó thực hiện đầy đủ công tác tổ chức đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại và các bên liên quan do phát sinh nhiều vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết tại một thời điểm. Có điều, nội dung này mới chỉ điều chỉnh cho công tác giải quyết khiếu nại lần 2, còn việc xem xét, giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định hiện nay thì việc tổ chức đối thoại là không bắt buộc và chưa có cơ chế cho phép người thụ lý, xác minh khiếu nại được tổ chức đối thoại giải quyết. Thực tiễn cho thấy, việc người giải quyết khiếu nại tổ chức đối thoại lần đầu giữa người khiếu nại, người bị khiếu nại và các bên liên quan là rất quan trọng. Đây là một căn cứ để định hướng giải quyết khiếu nại đúng pháp luật, hợp tình và hợp lý, nên cần sửa đổi, bổ sung Luật cho phù hợp.

Về tổ chức đối thoại: Khoản 2 Điều 30 Luật Khiếu nại quy định: “Người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức có liên quan biết thời gian, địa điểm, nội dung việc đối thoại”. Trường hợp chủ tịch UBND cấp huyện là người giải quyết khiếu nại lần đầu đồng thời là người bị khiếu nại thì quy định này là không phù hợp vì không thể người giải quyết khiếu nại thông báo bằng văn bản cho chính bản thân mình là người bị khiếu nại. Hơn nữa, trong trường hợp này ý nghĩa của việc tổ chức đối thoại cũng khó đảm bảo khi người chủ trì cuộc đối thoại cũng là một bên của cuộc đối thoại.

Luật Tiếp công dân có quy định tiếp nhận thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền, nhưng Luật Khiếu nại chưa quy định về quy trình giải quyết kiến nghị, phản ánh và chưa quy định thời gian giải quyết.

Về thời hiệu khiếu nại: Điều 9 Luật Khiếu nại quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trong khi đó, Điều 104 Luật Tố tụng hành chính quy định thời hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính là 1 năm. Điều này gây khó khăn cho công tác thi hành quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật của các cơ quan hành chính Nhà nước.

3. Các quy định về xử lý vi phạm

Việc xử lý hành vi vi phạm các quy định pháp luật về khiếu nại theo quy định tại Điều 67, 68 Luật Khiếu nại còn gặp nhiều khó khăn. Pháp luật hiện nay còn thiếu các quy định cụ thể về việc xử phạt vi phạm trong lĩnh vực khiếu nại. Vì vậy, các cơ quan còn lúng túng, khó khăn khi xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định pháp luật về khiếu nại.

Điều 6 Luật Khiếu nại quy định các hành vi bị nghiêm cấm, tuy nhiên các văn bản hướng dẫn luật thì không có hướng dẫn xử lý các hành vi này, cụ thể tại Khoản 3 Điều 6 quy định: “Ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định”. Trong trường hợp này, xử lý người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại như thế nào và thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp khi thụ lý giải quyết gặp trường hợp này là giải quyết lần đầu hay lần 2 vì thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp giải quyết không đúng theo trình tự thủ tục quy định.

Thông qua việc tổng kết, đánh giá 6 năm thi hành Luật Khiếu nại năm 2011, ngành Thanh tra chủ động phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan rà soát, tham mưu cho Chính phủ điều chỉnh, bổ sung các quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống và sự nghiêm minh của pháp luật./.

Phạm Bính Định

Trưởng phòng Nghiệp vụ 3, Thanh tra tỉnh Bến Tre