1. Thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ?

Hiện nay, khi toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan, tất yếu trong đó nền kinh tế của mỗi quốc gia là một bộ phận của nền kinh tế thế giới thống nhất thì nền kinh tế độc lập tự chủ không thể là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, thực hiện đóng cửa, không cần hội nhập với nền kinh tế thế giới.

Trong bối cảnh đó, nền kinh tế độc lập tự chủ cần được hiểu là nền kinh tế không bị chi phối hay lệ thuộc vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển kinh tế; có khả năng tận dụng được tối ưu các nguồn lực bên ngoài và bên trong cho sự phát triển bền vững của đất nước, đồng thời có khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những biến động của thị trường khu vực và thế giới.

Từ thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, chúng ta nhận thấy rằng, để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, cần đảm bảo ba yếu tố:

Một là, phải có đường lối, chính sách độc lập tự chủ về phát triển kinh tế - xã hội;

Hai là, phải có thực lực và tiềm lực kinh tế đủ mạnh ở mức cần thiết;

Ba là, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

2. Một số quy định pháp lý của Việt Nam hiện nay đảm bảo mục tiêu xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ

Như trình bày ở trên, một trong ba yếu tố quan trọng để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là phải xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Trong nội dung này, điều quan trọng nhất là cần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý để mọi tổ chức kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong những năm gần đây, Quốc hội Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng để tạo hành lang pháp lý toàn diện nhằm đảm bảo điều kiện pháp lý, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.

Trong đó, để đảm bảo xây dựng kinh tế độc lập tự chủ, không thể không nói đến vai trò của Hiến pháp khi đề cập đến vấn đề này. Ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013). Bản Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Bản Hiến pháp năm 2013 là đạo luật gốc, là văn kiện đặc biệt quan trọng thể hiện tập trung ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, tạo cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế nhằm xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hiến pháp năm 2013 quy định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế; gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Điều 50).

Khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. 2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.” Điều đó thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về các thành phần kinh tế là chủ thể của nền kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh theo quy định của pháp luật, chứ không có sự phân biệt, đối xử giữa các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh tế khác nhau, qua đó nhằm huy động toàn diện, đồng bộ tất các các nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước.

Lần đầu tiên trong hiến pháp ghi nhận vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân một cách tương xứng với sự đóng góp to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời khẳng định rõ ràng và nhất quán về tài sản hợp pháp để đầu tư, sản xuất kinh doanh được Nhà nước bảo vệ và không bị quốc hữu hóa. Điều này được thể hiện tại Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa”.

Trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh, để cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh và đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng, hiện nay, mọi loại hình doanh nghiệp ở nước ta, bao gồm cả doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối đều hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2015.

Luật Doanh nghiệp năm 2015 áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp, đã thực sự tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thể chế hóa sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, mở rộng và phát triển quyền tự do kinh doanh trên tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiếp tục đổi mới chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với các cam kết quốc tế, góp phần xây dựng và tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, bình đẳng, ổn định, thông thoáng, có sức cạnh tranh cao so với khu vực. 

Về lĩnh vực pháp luật tài chính, cùng với việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế năm 2019 cũng đã góp phần tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động trong đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh khi thời điểm thực hiện việc giảm dần tiến tới bỏ hàng rào thuế quan theo các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đang tới gần, nhất là đối với lĩnh vực nông - thủy hải sản.

Mặt khác, nhằm đảm bảo nền kinh tế luôn chủ động và có tiềm lực cần thiết để độc lập, tự chủ, trong hai năm 2015, 2016, Bộ Tài chính đã tích cực nắm bắt những biến động của nền kinh tế, rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính. Trên cơ sở đó, Luật Ngân sách nhà nước với nhiều điểm sửa đổi, bổ sung, đã được Quốc hội thông qua vào năm 2015. Nội dung luật đã tiệm cận và quy định rõ hơn vấn đề về bội chi và phạm vi bội chi ngân sách nhà nước; hạn chế được sự trùng lắp và phản ánh đúng bản chất các khoản vay, phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng cường tính minh bạch, tạo điều kiện hội nhập tốt hơn cũng như tranh thủ các nguồn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước.

Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu kinh tế độc lập, tự chủ, thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng hành lang pháp lý, tạo điều kiện hình thành tương đối đầy đủ các loại thị trường ở nước ta như thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ…

Tuy vậy, đối chiếu với một nền kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, hiện đại và hội nhập quốc tế và tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế nước ta thì nhìn một cách tổng quát, hệ thống pháp luật hiện nay còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết được tiềm năng của các loại thị trường tại Việt Nam. Ví dụ như ở thị trường lao động, chính sách tiền công, tiền lương trên thị trường lao động còn nhiều bất cập. Chính sách tiền lương tối thiểu ở mức thấp, không đồng đều. Tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức khu vực nhà nước chưa phù hợp với vị trí làm việc, chức danh và hiệu quả công tác. Cơ chế, chính sách về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và doanh nghiệp chưa phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Hệ thống thông tin, tổ chức trung gian, môi giới về người lao động và người sử dụng lao động đều không đầy đủ và có độ tin cậy thấp, các tổ chức trung gian trên thị trường lao động (sàn giao dịch, trung tâm dịch vụ việc làm...) hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa thực sự làm vai trò kết nối cung - cầu lao động.

Thị trường bất động sản chịu sự chi phối và can thiệp thiếu hiệu quả của Nhà nước. Tình trạng thông tin thiếu minh bạch vẫn tồn tại trên thị trường bất động sản, đặc biệt là thông tin về giá đất. Một số cơ chế, chính sách đối với thị trường bất động sản còn nhiều bất cập, như có sự khác biệt về giá đất cho các đối tượng sử dụng; cơ chế đổi đất lấy hạ tầng chưa tính toán hết được giá trị tương lai của đất; nhiều tổ chức, doanh nghiệp nhà nước sử dụng lãng phí đất được giao. Chính sách thu hồi đất nông nghiệp để đô thị hóa, chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi chưa hợp lý, gây khiếu kiện kéo dài.

Đối với thị trường tài chính, mức độ lành mạnh của hệ thống ngân hàng còn thấp. Thể chế cho sự phát triển của thị trường tiền tệ chưa hoàn thiện, còn thiếu những tổ chức trung gian, những nhà môi giới tiền tệ chuyên nghiệp trên thị trường.

Trên thị trường khoa học - công nghệ, các cơ chế, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp công nghệ cao còn ít, thiếu định chế trung gian (tổ chức trung gian, môi giới; tổ chức thẩm định, đánh giá công nghệ; tổ chức tư vấn pháp lý...) để kết nối cung - cầu trên thị trường khoa học - công nghệ. Việc quản lý về tài chính, nhân lực đối với các tổ chức khoa học và công nghệ còn mang nặng tính hành chính, chưa phù hợp với đặc điểm lao động của nhà khoa học, chưa phát huy được khả năng nghiên cứu, sáng tạo của đội ngũ này. Cơ chế, chính sách phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư đổi mới công nghệ chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ.

Kết luận

Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là một thử thách lớn trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, thị trường thế giới là một thể thống nhất, lại đứng trước cả yêu cầu quốc phòng gay gắt. Ðây là cuộc phấn đấu gian nan, đòi hỏi phải có ý thức chính trị đúng đắn, trình độ hiểu biết các quy luật kinh tế sâu sắc để có những chính sách, biện pháp tổ chức quản lý và bước đi khôn ngoan. Sau hơn 30 năm đổi mới, đã đến lúc Đảng và Nhà nước ta cần nhìn nhận, đánh giá lại công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ của nước nhà.

Nguyên tắc cơ bản và bao trùm trong hội nhập quốc tế là bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường. Trong hội nhập quốc tế, phải vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để tranh thủ được thời cơ và hạn chế nguy cơ, bảo vệ lợi ích chính đáng của đất nước, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Đương nhiên, trong tình hình thế giới phức tạp như hiện nay, chúng ta chủ động và tích cực hội nhập, bảo đảm thực hiện các cam kết trong các quan hệ song phương và đa phương, nhưng phải luôn đề cao cảnh giác trước các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, điều cơ bản có tính chất quyết định để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ là phải phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tạo thành quốc lực mạnh. Để có quốc lực mạnh, một trong những yếu tố quan trọng là phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống khung pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp ổn định và phát triển hoạt động kinh doanh. Có như thế việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của quốc gia mới có thể thành công./.

Ths. Vũ Thị Tâm,

Giảng viên Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển