Qua đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Chính phủ và nhiều địa phương, cơ quan chức năng đều cho rằng, việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng thời gian qua hiệu quả chưa cao, chưa thực sự động viên, khích lệ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân dũng cảm tố giác hành vi tham nhũng.

Để giúp người đọc hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan đến bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, trong phạm vi bài viết này, tác giả giới thiệu khái quát thể chế của Việt Nam về bảo vệ người tố cáo, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện biện pháp bảo vệ người tố cáo và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.  

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Khái quát chung thể chế của Việt Nam về bảo vệ người tố cáo

Quyền tố cáo của công dân là quyền hiến định được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật, như Luật Tố cáo; Luật PCTN; Bộ luật Hình sự… Riêng Luật Tố cáo năm 2011 đã dành hẳn 1 chương riêng quy định về bảo vệ người tố cáo, trong đó quy định việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại nơi cư trú, công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định. Đối tượng được bảo vệ gồm có người tố cáo và những người thân thích của người tố cáo, gồm vợ hoặc chồng, con, bố mẹ, anh, chị em ruột. Thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ.

Về nội dung và các biện pháp bảo vệ người tố cáo, theo Nghị định số 76/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo bao gồm:

Bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo: Khi tiếp nhận tố cáo, thụ lý giải quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải nghiên cứu, xác định nội dung vụ việc, những thông tin nếu tiết lộ sẽ gây bất lợi cho người tố cáo để áp dụng biện pháp phù hợp nhằm giữ bí mật thông tin cho người tố cáo, đồng thời lưu trữ và quản lý thông tin về người tố cáo theo chế độ bí mật Nhà nước. Nếu có yêu cầu làm việc trực tiếp với người tố cáo thì phải bố trí thời gian, địa điểm và chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật về người tố cáo. Trường hợp phát hiện người không có thẩm quyền có hành vi thu thập thông tin về người tố cáo thì phải áp dụng biện pháp theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc xử lý.

Bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo: Nếu có căn cứ cho thấy có nguy cơ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo thì người giải quyết tố cáo có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền để áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp xác định hành vi xâm hại người được bảo vệ đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải chỉ đạo hoặc phối hợp để áp dụng ngay các biện pháp bảo vệ, như:

+ Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để bảo vệ an toàn cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết.

+ Tạm thời di chuyển người được bảo vệ đến nơi an toàn.

Khi đã ngăn chặn được hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo vệ, tùy theo từng trường hợp cụ thể, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng các biện pháp, như:

+ Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý đối với người có hành vi xâm hại.

+ Trường hợp xác định việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người được bảo vệ có nguy cơ tái diễn thì ra quyết định bảo vệ và xây dựng kế hoạch bảo vệ.

Căn cứ vào tính chất, mức độ và khả năng xảy ra trên thực tế của hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo vệ, cơ quan ra quyết định bảo vệ xem xét, áp dụng các biện pháp, như:

+ Hạn chế phạm vi đi lại, quan hệ giao tiếp, thăm gặp, làm việc, học tập của người được bảo vệ trong một thời hạn nhất định.

+ Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập của người được bảo vệ.

+ Xử lý hành chính hoặc kiến nghị xử lý hình sự đối với hành vi tấn công, xâm hại hoặc đe dọa tấn công, xâm hại.

+ Áp dụng các biện pháp hành chính khác nhằm ngăn chặn hành vi tấn công, xâm hại hoặc đe dọa tấn công xâm hại người được bảo vệ.

+ Thay đổi tung tích, lai lịch, đặc điểm nhân thân, nhân dạng của người được bảo vệ (chỉ áp dụng khi có sự đồng ý của người được bảo vệ và hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại là đặc biệt nguy hiểm có liên quan đến tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm về ma túy hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác).

- Bảo vệ tài sản của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo: Trường hợp xác định hành vi xâm hại tài sản đang xảy ra hoặc có thể xảy ra ngay tức khắc, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an nơi có tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ. Khi đã ngăn chặn được hành vi xâm hại, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an nơi có tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ sau đây:

+ Yêu cầu người có hành vi xâm hại đến tài sản của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm.

+ Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người có thẩm quyền bảo vệ áp dụng các biện pháp bảo vệ sau đây:

+ Yêu cầu người có hành vi xâm hại chấm dứt hành vi vi phạm và buộc xin lỗi, cải chính công khai.

+ Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý đối với người có hành vi vi phạm.

+ Đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan khôi phục danh dự, uy tín, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người được bảo vệ bị xâm hại.

Bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức: Người giải quyết tố cáo phải áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ, như:

+ Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo.

+ Khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người tố cáo.

+ Thuyên chuyển công tác của người được bảo vệ sang cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử.

+ Ra quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.

Ý nghĩa của việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng

Bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng góp phần bảo đảm thực thi các quy định của pháp luật về quyền công dân và PCTN.

Pháp luật về tố cáo và PCTN đều có quy định về bảo vệ người tố cáo. Vì vậy, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định và việc trả thù người tố cáo là điều Hiến pháp, pháp luật nghiêm cấm. Do đó, việc thực hiện các biện pháp bảo vệ người tố cáo chính là góp phần bảo đảm thực thi các quy định của pháp luật về quyền công dân và PCTN.

Bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát huy vai trò trách nhiệm của xã hội trong PCTN, tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý xã hội.

Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, có trách nhiệm chính trong công tác PCTN, nhưng trong một xã hội dân chủ, phát triển thì người dân cũng giữ vai trò quan trọng trong việc tham gia quản lý xã hội và Nhà nước có trách nhiệm phải tạo điều kiện, phát huy vai trò đó. Đặc biệt là trong công tác PCTN thì pháp luật đã có quy định cụ thể vai trò, trách nhiệm của xã hội nói chung và công dân nói riêng trong PCTN. Vì vậy, việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng chính là một biện pháp mà Nhà nước sử dụng để thiết thực tạo điều kiện cho người dân phát hiện, tố giác những biểu hiện vi phạm pháp luật nói chung và hành vi tham nhũng nói riêng, qua đó phát huy vai trò, sự đóng góp, trách nhiệm của người dân trong việc tham gia quản lý xã hội và tham gia công tác PCTN, tiêu cực.

Bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng là trực tiếp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý những biểu hiện trả thù, trù dập người tố cáo hành vi tham nhũng, người thân thích của họ do việc tố cáo hành vi tham nhũng.

Người tố cáo hành vi tham nhũng luôn đứng trước nguy cơ bị trả thù do việc tố cáo của mình, nhất là trong tố cáo hành vi tham nhũng, người bị tố cáo là người có chức vụ, có quyền lực. Nếu không có các biện pháp bảo vệ thì nguy cơ người tố cáo hành vi tham nhũng bị trả thù sẽ rất cao. Những kẻ tham nhũng càng có cơ hội, điều kiện để trả thù người tố cáo hoặc người thân thích của họ. Tuy nhiên, nếu việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện trước hết sẽ có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn. Đối tượng có ý định trả thù sẽ phải dè chừng do biết Nhà nước đã có những biện pháp bảo vệ và nếu thực hiện hành vi trả thù thì đối tượng đó có thể phải đối mặt với việc bị phát hiện và xử lý nghiêm. Hoặc khi đối tượng muốn trả thù thì những biện pháp như di chuyển chỗ ở, thay đổi nhân dạng cũng sẽ ngăn ngừa được ý đồ đó.

Bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng góp phần khuyến khích, động viên công dân dũng cảm tố cáo tham nhũng.

Có không ít trường hợp người dân biết được hành vi tham nhũng nhưng e ngại, không dám tố cáo hoặc phân vân trước khi quyết định tố cáo do sợ bị trả thù hoặc cảm thấy không an toàn cho người thân của mình. Vì vậy, việc thực thi các biện pháp bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng và người thân thích của người tố cáo một cách hiệu quả sẽ góp phần gạt bỏ những e ngại, lo lắng, phân vân của người dân, giúp cho người dân dễ dàng hơn, dũng cảm hơn trong việc quyết định tố giác hành vi tham nhũng với cơ quan chức năng, người có thẩm quyền.

Những vướng mắc trong thực tiễn bảo vệ người tố cáo và một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện

Về bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo hành vi tham nhũng: Hình thức tố cáo hành vi tham nhũng đa dạng hơn tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật khác, bao gồm cả tố cáo qua điện thoại và tố cáo bằng thông điệp dữ liệu. Việc gửi thông tin tố cáo qua mạng, hộp thư điện tử bản thân nó đã không phải là hình thức có tính bảo mật cao. Mặt khác, nếu nhận thức không đầy đủ hoặc không được hướng dẫn cụ thể, người tố cáo có thể dễ dàng gửi thông điệp dữ liệu về nội dung tố cáo đến nhiều nơi, kể cả những địa chỉ không có thẩm quyền, trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. Do đó, làm cho việc bảo mật thông tin thêm khó khăn, phức tạp.

Về căn cứ để yêu cầu bảo vệ đối với người tố cáo hành vi tham nhũng: Quy định hiện hành đòi hỏi khi có “căn cứ” cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, xâm hại đến tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm; hoặc bị trù dập, phân biệt đối xử tại nơi làm việc… của bản thân người tố cáo và người thân thích của người tố cáo thì họ có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan công an, cơ quan, tổ chức có liên quan áp dụng biện pháp bảo vệ. Tuy nhiên, chưa có một cách hiểu chung về khái niệm “có căn cứ” khi pháp luật chưa mô tả cụ thể được những biểu hiện hình thức và định lượng về mức độ đe dọa. Bên cạnh đó, nội dung tố cáo hành vi tham nhũng thường liên quan đến người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí là lãnh đạo của người tố cáo. Việc trù dập, trả thù không phải chỉ xảy ra ngay trong một thời điểm mà có thể kéo dài với mức độ khác nhau trong từng thời điểm…

Về quy định nơi bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng: Tại điểm 3 Điều 14 Nghị định 76/2012/NĐ-CP, đã quy định: “Khi xác định hành vi xâm hại người được bảo vệ đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an áp dụng ngay các biện pháp bảo vệ như bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để bảo vệ an toàn cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết; tạm thời di chuyển người được bảo vệ đến nơi an toàn”… Thế nhưng, địa điểm bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được quy định là “nơi cần thiết” và “nơi an toàn” vẫn chỉ là khái niệm chung chung, chưa có hướng dẫn cụ thể. Trong trường hợp người trù dập, trả thù lại chính là cấp trên trong cùng cơ quan, tổ chức, đơn vị thì việc bố trí “nơi cần thiết”, “nơi an toàn” là rất khó khăn.

Về quan hệ phối hợp giữa người giải quyết tố cáo và các cơ quan tổ chức có liên quan trong bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng: Trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng trước hết thuộc về người giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, đối với tố cáo hành tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thì việc các cơ quan, tổ chức, đơn vị xác định thẩm quyền giải quyết và chuyển đơn tố cáo về đơn vị sẽ rất nguy hiểm cho người tố cáo. Ví dụ, người tố cáo phát hiện kế toán trưởng có hành vi tham nhũng, gửi đơn lên cấp trên. Cấp trên lại chuyển đơn tố cáo về cho thủ trưởng đơn vị theo quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo. Thực tế, hành vi tham nhũng lại là sự thông đồng giữa thủ trưởng đơn vị với kế toán trưởng thì vô tình đã làm lộ danh tính người tố cáo cho đối tượng tham nhũng biết. Mặt khác, cho dù người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không liên quan đến hành vi tham nhũng đó, nhưng theo quy định hiện nay, người đứng đầu sẽ bị xử lý nếu thiếu trách nhiệm, để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Do đó, cũng sẽ rất nguy hiểm cho người tố cáo nếu người đứng đầu không muốn làm rõ vụ việc này do lo ngại ảnh hưởng đến uy tín và trách nhiệm của mình.

Về quy trình phối hợp thực hiện các biện pháp bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng: Luật PCTN, Luật T ố cáo và các văn bản có liên quan chưa cụ thể hóa quy trình thời gian phối hợp, xác minh yêu cầu được bảo vệ của người tố cáo hành vi tham nhũng. Điều đó có thể dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm, làm chậm trễ thời gian xác minh, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và người thân của họ. Do đó, việc thiếu hướng dẫn cụ thể quy trình thủ tục về tiếp nhận, xử lý giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo cũng là vấn đề tạo khó khăn trong thực tiễn.

Để việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng thực sự trở thành một trong những biện pháp hiệu quả trong việc phát huy vai trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTN và tích cực giúp cơ quan chức năng ngăn chặn, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng, tác giả xin được kiến nghị một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt các quy định về bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, gắn với việc tuyên truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân các quy định của pháp luật về tố cáo, cơ chế bảo vệ người tố cáo nói chung, đặc biệt là các quy định về vai trò, trách nhiệm của xã hội và mỗi công dân trong PCTN.

Hai là, hoàn thiện quy định hiện hành về bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng nhằm khắc phục triệt để những hạn chế, vướng mắc thời gian vừa qua. Nghiên cứu, quy định cụ thể việc người có chức vụ, quyền hạn khi chủ động tố cáo hành vi đưa hối lộ cho chính mình khi chưa bị phát giác thì được miễn mọi trách nhiệm, đồng thời được xem xét trích thưởng theo tỷ lệ % của số tiền, tài sản đã dùng làm của hối lộ.

Ba là, Thanh tra Chính phủ nghiên cứu ban hành thông tư quy định trách nhiệm của các cơ quan trong phối hợp giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng; đồng thời hướng dẫn trình tự, thủ tục và hệ thống mẫu biểu, văn bản quy định việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết yêu cầu bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng.

Bốn là, nghiên cứu, đề xuất cơ chế cụ thể để bồi thường hoặc đền bù cho người tố cáo khi họ bị trả thù, trù dập vì lý do chủ quan hoặc khách quan mà Nhà nước không kịp thời hoặc không thể bảo vệ được bản thân hoặc người thân thích của người tố cáo hành vi tham nhũng.

Có thể nói, trong bối cảnh tình hình tham nhũng và điều kiện thực tiễn ở nước ta hiện nay, bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng vẫn là một trong các biện pháp quan trọng có thể mang lại hiệu quả tích cực trong công tác PCTN nói chung và việc phát huy vai trò, trách nhiệm của mỗi công dân trong PCTN nói riêng. Do đó, cần có sự quan tâm thích đáng của các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan chức năng trong PCTN./.

 

Ths. Ngô Mạnh Hùng

Phó Cục trưởng Cục Chống tham nhũng