Có nhiều nguyên nhân làm phát sinh tham nhũng, chủ yếu là:

Thứ nhất, hệ thống chính sách và các văn bản pháp luật phức tạp, thiếu chặt chẽ, đồng bộ.

Sự phức tạp, thiếu chặt chẽ, đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật dẫn đến tình trạng tùy tiện trong áp dụng. Đồng thời việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi thường xuyên các văn bản, chính sách làm cho người dân, đặc biệt là các doanh nghiệp không kịp cập nhật, nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của họ.

Bên cạnh đó, khi pháp luật không được áp dụng và thực thi nhất quán, ví dụ cùng một yêu cầu giống nhau nhưng quá trình áp dụng pháp luật từ phía cơ quan quản lý nhà nước lại cho ra những kết quả khác nhau thì người dân hoặc doanh nghiệp có thể phải tính đến giải pháp chi trả những khoản chi phí không chính thức cho người có thẩm quyền. Điều này tạo cơ hội cho những hành vi tùy tiện, nhũng nhiễu vì vụ lợi của những người có chức vụ, quyền hạn trong quá trình thực thi công vụ. Trong khi tâm lý người dân hoặc doanh nghiệp lại sẵn sàng chi trả một khoản chi phí không chính thức trong giao dịch với cơ quan nhà nước nhằm được giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục.

Thứ hai, thiếu công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Trong một môi trường hoạt động thiếu công khai, minh bạch, khi người có chức vụ, quyền hạn không phải chịu sức ép từ suy nghĩ rằng mọi hành vi đều có thể bị giám sát bởi những chủ thể khác, hoặc cho rằng nếu hành vi có bị phát giác cũng khó có thể đánh giá được do thiếu thông tin hoặc thiếu rõ ràng trong những thông tin được công khai, họ thường có xu hướng lạm dụng quyền lực được giao vì mục đích vụ lợi. Vì vậy, thiếu công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị chính là một trong những nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các hành vi tham nhũng.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Thứ ba, thiếu một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh doanh.

Trong một môi trường kinh doanh còn hiện tượng độc quyền trong cung cấp dịch vụ, hàng hóa thì các doanh nghiệp thay vì nâng cao năng lực cạnh tranh một cách lành mạnh sẽ tìm cách phát triển quan hệ với các cơ quan nhà nước, các đối tác kinh doanh. Họ sẵn sàng chi trả các khoản chi phí không chính thức để giành được các hợp đồng lớn hoặc trúng những gói thầu cung cấp hàng hóa thiết bị, đặc biệt trong hoạt động mua sắm công. Sự thiếu hoàn thiện của các quy định pháp luật về đấu thầu, thiếu cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích… đều là những điều kiện thúc đẩy nguy cơ thực hiện các hành vi tham nhũng.

Thứ tư, chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp.

Sự chênh lệch về tiền lương và chế độ đãi ngộ nói chung giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, giữa chính những doanh nghiệp với nhau làm phát sinh động cơ tham nhũng của cán bộ, công chức, viên chức trong các tình huống xung đột lợi ích. Tiền lương và những lợi ích vật chất chính thức có được từ công việc không đủ để đáp úng nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình, họ sẽ tìm cách thực hiện những hành vi bất chính để trục lợi cá nhân do chính chức vụ, quyền hạn của họ tạo ra.

Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân phát sinh tham nhũng, tác giả cho rằng, hơn 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, CCHC luôn là một trong những giải pháp đột phá, nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng. Hàng năm và trong từng giai đoạn, các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều ban hành kế hoạch CCHC, kế hoạch cải thiện và nâng cao Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) để xác định rõ nội dung, nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc thực thi công tác CCHC.

Kết quả CCHC hàng năm được sử dụng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, năng lực lãnh đạo, điều hành, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; là một trong những tiêu chí để đánh giá, bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cho tập thể, cá nhân.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục tiến hành đồng bộ công tác CCHC nhằm mục tiêu chống tham nhũng trên mọi mặt cụ thể, như sau:

Một là, công tác ban hành, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cần luôn được quan tâm thực hiện, nhằm hoàn thiện thể chế phục vụ yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các văn bản được ban hành đúng quy trình, có lấy ý kiến của đối tượng điều chỉnh, đảm bảo hợp pháp, hợp lý và có tính khả thi.

Việc văn bản hóa các cơ chế, chính sách kịp thời để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh và việc đăng công báo tỉnh, niêm yết các văn bản đã ban hành nơi công cộng, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật. Qua đó, hạn chế được sự tùy tiện trong quá trình ban hành các quyết định hành chính của cơ quan, đơn vị, cá nhân, tạo điều kiện cho nhân dân kiểm tra và giám sát việc áp dụng pháp luật.

Hai là, thủ tục hành chính (TTHC) để giải quyết công việc cho người dân và doanh nghiệp cần được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu dự thảo văn bản có quy định về thủ tục hành chính đến khâu tổ chức thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về TTHC trước khi ban hành phải được đánh giá tác động về sự cần thiết, tính hợp pháp, hợp lý và chi phí tuân thủ TTHC, không để xảy ra sơ hở về mặt pháp lý, làm nảy sinh tiêu cực, nhũng nhiễu.

Tất cả các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính các cấp phải được công khai, minh bạch đầy đủ, chính xác, có hệ thống trên cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, Cổng thông tin điện tử của các cơ quan hành chính tại bộ phận một cửa và trên website của cơ quan hành chính các cấp, để cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện.

Xuất phát từ quan điểm nếu có thêm một TTHC không cần thiết là tăng thêm một nguy cơ nhũng nhiễu, tham nhũng, trong thời gian tới, công tác rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHC cần được tiếp tục chú trọng nhằm cắt giảm TTHC rườm rà, phức tạp, không cần thiết, không còn phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân, doanh nghiệp.

Song song đó, quan tâm tới việc giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại tất cả các cơ quan hành chính, việc tiếp nhận và kịp thời xử lý các phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính, về giải quyết TTHC, về tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức... Qua đó, sẽ cơ bản kiểm soát được việc giải quyết TTHC của án bộ, công chức, viên chức và hạn chế đến mức thấp nhất các nguy cơ xảy ra tham nhũng.

Ba là, đối với bộ máy hành chính các cấp cần tiếp tục được củng cố, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.

Công khai, minh bạch tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính giúp cho án bộ, công chức, viên chức xác định được quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình thực thi công vụ, hạn chế tình trạng lạm quyền, vụ lợi.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở và công tác dân vận chính quyền nhằm tăng cường vai trò giám sát, phản biện của nhân dân đối với hệ thống chính trị; thường xuyên định kỳ tổ chức việc đối thoại, tiếp công dân, chất vấn và trả lời chất vấn của cử tri để nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính và người đứng đầu cơ quan hành chính trước đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Bộ máy hành chính vận hành thông suốt, thống nhất và đồng bộ, sẽ góp phần ngăn ngừa nguy cơ tham nhũng.

Bốn là, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ án bộ, công chức, viên chức là giải pháp có tính quyết định đến công tác phòng, chống tham nhũng, bởi lẽ, ý định và hành vi tham nhũng là xuất phát từ những con người cụ thể. Vì vậy, để hình thành đội ngũ án bộ, công chức, viên chứccó đủ phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn - nghiệp vụ, kỹ năng hành chính, cần triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp như: tuyển dụng, nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; bố trí, sử dụng, phân loại, đánh giá theo vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả hoàn thành nhiệm vụ; đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, vị trí việc làm, kỹ năng hành chính và đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ; tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, để kịp thời chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính,…

Thực hiện nghiêm túc việc chuyển đổi vị trí công tác đối với một số chức danh công chức trên một số lĩnh vực nhạy cảm theo Nghị định số 158/2007/NĐ-CP và Nghị định số 150/2013/NĐ-CP. Từ đó, sẽ từng bước hình thành nền công vụ trách nhiệm, chuyên nghiệp, năng động, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công tác phòng, chống tiêu cực, tham nhũng.

Năm là, quan tâm thực hiện theo quy định pháp luật việc xây dựng chế độ, định mức, tiêu chuẩn về tài chính và quản lý, sử dụng tài sản công; công khai kết quả thu - chi ngân sách, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý tài sản công và minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức. Đẩy mạnh việc xã hội hóa một số dịch vụ công như y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ.

Thực hiện quyền tự chủ về tài chính, biên chế và giao khoán kinh phí hoạt động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị có đủ điều kiện.

Những giải pháp trên không chỉ minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước mà còn có ý nghĩa giáo dục, quản lý, ngăn ngừa hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức, viên chức, tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, giám sát nội bộ và giám sát của xã hội được tiến hành thuận lợi hơn.

Có thể nói, CCHC và phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải tiến hành căn cơ với những bước đi vững chắc, với quyết tâm và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự tham gia một cách chủ động, tích cực của toàn xã hội và sự đồng thuận của nhân dân, nhằm đẩy lùi tình trạng tham nhũng, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng Đảng và bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; củng cố niềm tin của nhân dân và cộng đồng quốc tế vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, bảo đảm vững chắc cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước./.

Nguyễn Thị Lê Thu