1. Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh

“Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước (HCNN)” là thuật ngữ dùng để chỉ thiết chế giữ vị trí pháp lý cao nhất trong cơ quan HCNN, thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý hoạt động của cơ quan HCNN, có nghĩa vụ và quyền hạn cao nhất đối với hoạt động của cơ quan HCNN và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan HCNN đó”(1). Chủ thể này chịu trách nhiệm và nghĩa vụ cao nhất trong việc tổ chức thực hiện chức năng và nhiệm vụ của cơ quan và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan với tư cách là người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh. Vị trí và địa vị pháp lý của người đứng đầu cơ quan HCNN được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tổ chức đó và nằm ở các văn bản luật hướng dẫn, quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN.

Địa vị pháp lý của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có một số đặc điểm cơ bản sau:

Một là, người đứng đầu cơ quan HCNN là vị trí mang tính pháp lý.

Hệ thống các cơ quan HCNN có đặc điểm là do nhà nước thành lập, việc tổ chức, hoạt động dựa trên cơ sở các quy định pháp luật(2), do đó, người đứng đầu cơ quan HCNN phải là vị trí mang tính pháp lý. Cá nhân được bổ nhiệm là người đứng đầu cơ quan HCNN, được pháp luật thừa nhận một cách chính thức. Tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình hình thành, hoạt động và kết thúc hoạt động của một chức danh người đứng đầu cơ quan HCNN đều tuân thủ theo các quy định pháp lý.

Hai là, người đứng đầu cơ quan HCNN hoạt động nhân danh Nhà nước.

Nhà nước thành lập các cơ quan HCNN để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước trao cho các cơ quan HCNN và các chức vụ trong cơ quan HCNN - trong đó có chức vụ người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh những thẩm quyền nhất định. Những thẩm quyền này là phương tiện pháp lý để người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh thực hiện vai trò người đứng đầu. Thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan HCNN nói chung, cấp tỉnh nói riêng là tổng thể những quyền, nghĩa vụ mang tính quyền lực - pháp lý do pháp luật quy định.  Khi thực hiện các quyền, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh nhân danh nhà nước, đại diện cho quyền lực nhà nước. Người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh được sử dụng quyền lực công cùng các nguồn lực công để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt người đứng đầu cơ quan HCNN với người đứng đầu các tổ chức xã hội.

Ba là, địa vị pháp lý của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh chịu sự chi phối của quan hệ hành chính mang tính mệnh lệnh, thứ bậc.

Để thực hiện được chức năng quản lý HCNN trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống HCNN của hầu hết các nước trên thế giới đều mang tính thứ bậc, cấp trên cấp dưới và có sự phân công phân cấp phù hợp với yêu cầu cơ quan HCNN trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ở Việt Nam, nền HCNN được cấu tạo gồm một hệ thống định chế tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ trung ương tới các địa phương, trong đó cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp trên. Vì vậy, địa vị pháp lý của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh cũng chịu sự chi phối của quan hệ hành chính mang tính mệnh lệnh, thứ bậc này.

Bốn là, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh là người thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý đối với cơ quan HCNN mình đứng đầu.

Từ quan niệm và những quy định về người đứng đầu tổ chức có thể hiểu người đứng đầu tổ chức là người thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý trong tổ chức. Đối với người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh cũng không phải ngoại lệ. Người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh là người thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý đối với cơ quan HCNN do mình đứng đầu.

2. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh

Trong nghiên cứu và khoa học quản lý ở Việt Nam hiện nay còn có những cách hiểu và quan niệm chưa thống nhất về thuật ngữ “trách nhiệm”. Một số nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ “trách nhiệm” theo nghĩa là nghĩa vụ, nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn. Tuy nhiên, có thể hiểu trách nhiệm không chỉ bao hàm những hậu quả bất lợi nào đó mà phải luôn gắn liền với nghĩa vụ của mỗi cá nhân đặc biệt là người đứng đầu cơ quan HCNN. Và như vậy, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh là những việc người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh nên làm, phải làm và được làm với kết quả tốt nhất, nếu kết quả không tốt người đứng đầu cơ quan HCNN sẽ phải chịu trách nhiệm.

2.1. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh

Cơ sở hình thành trách nhiệm rất phong phú. Trên cơ sở quan niệm này, có thể thấy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN nói chung, cấp tỉnh nói riêng được hình thành bởi ba yếu tố cấu thành cơ bản là Nghĩa vụ, Quyền, và việc Chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện các nghĩa vụ và quyền đó. Công thức khái quát như sau:

Trách nhiệm = Nghĩa vụ + Quyền + Chịu trách nhiệm

Thứ nhất, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan HCNN.

Nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan HCNN có thể được hiểu là những hoạt động họ nên thực hiện, phải thực hiện hoặc không được phép thực hiện trong hiện tại và tương lai. Theo cách hiểu này, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh bao gồm các khía cạnh là những việc nên làm, những điều phải làm và những điều không được làm.

Những việc nên làm là những việc người đứng đầu thực hiện xuất phát từ sự ý thức một cách tự giác về sứ mệnh của bản thân. Trên phương diện pháp lý, việc đặt vấn đề đâu là việc “nên làm” hay “không nên làm” đối với người đứng đầu cơ quan HCNN là thiếu căn cứ. Tuy nhiên, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN không chỉ được xem xét trên phương diện pháp lý mà còn được xem xét trên phương diện chính trị, phương diện đạo đức. Điều này có nghĩa là những đòi hỏi đối với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có thể vượt qua những gì pháp luật quy định. Với cách tiếp cận như vậy, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh không chỉ dừng lại ở những việc phải làm, không được làm, mà còn phải xem xét những việc họ “nên làm” với mục đích đạt đến hiệu quả cao nhất trong hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.

Những điều phải làm là những nghĩa vụ cụ thể (hoặc công vụ cụ thể) được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như nhiệm vụ, công vụ. Đó là những việc mà người đứng đầu có bổn phận bắt buộc phải hoàn thành theo quy định pháp luật.

Những điều không được làm là những điều người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh bị hạn chế không được làm do đặc trưng của nền công vụ và của vị trí người đứng đầu.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan HCNN có thể xem xét dưới nhiều góc độ.

Dưới góc độ là người lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan HCNN có các nghĩa vụ mà bất cứ người nào ở vị trí cao nhất trong tổ chức cũng phải thực hiện, đó là thực hiện vai trò của người lãnh đạo như: thiết lập tầm nhìn cho tổ chức; tập hợp quần chúng; cổ vũ, động viên toàn bộ đội ngũ; xây dựng chiến lược cho tổ chức; Ra quyết định; tạo ra những sự thay đổi; tạo dựng môi trường làm việc lành mạnh(3), đồng thời thực hiện vai trò của người quản lý như lập kế hoạch, ngân sách, tổ chức, biên chế, kiểm soát, và giải quyết vấn đề(4).

Dưới góc độ là người làm việc trong cơ quan HCNN - một loại hình tổ chức có tính chất, vai trò đặc biệt, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh còn phải thực hiện những nghĩa vụ mang tính đặc thù mà bất cứ nền công vụ của quốc gia nào cũng quy định như: tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, phục vụ nhân dân, giữ bí mật nhà nước, không được thực hiện những điều cấm...

Nhìn chung, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có những nghĩa vụ cơ bản sau:

-  Tuân thủ pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo của cấp trên.

-  Phục vụ nhân dân

-  Xác định tầm nhìn, lập kế hoạch hoạt động cho cơ quan HCNN

-  Chỉ đạo, tổ chức, điều hành cơ quan thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động và toàn bộ hoạt động của cơ quan được giao lãnh đạo, quản lý.

-  Ra quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định đó.

-  Tổ chức bộ máy, phân công công việc.

-  Quản lý cán bộ, công chức.

-  Quản lý tài chính, tài sản.

-  Quản lý thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước, giải trình khi có yêu cầu.

-  Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức, xử lý vi phạm trong phạm vi thẩm quyền.

-  Tạo động lực làm việc cho nhân viên.

-  Không được thực hiện những điều cấm...

Thứ hai, Quyền của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh.

Quyền là khả năng xử sự nhất định của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh nhằm thực thi nhiệm vụ được giao. Quyền của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh được cụ thể hóa bằng quyền hạn. Với tư cách là người lãnh đạo, quản lý nói chung, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh cần có quyền hạn tương ứng để thực hiện các nghĩa vụ, ví dụ: tương ứng với các nghĩa vụ quản lý cán bộ, công chức, quản lý tài chính, tài sản, quản lý thông tin, người đứng đầu cần có các quyền hạn trong các lĩnh vực này, thể hiện tập trung trong quyền ra quyết định theo ý chí của bản thân. Như vậy, trong cơ quan HCNN cấp tỉnh, người đứng đầu là vị trí có quyền quyết định cao nhất, bao quát các lĩnh vực, các hoạt động của cơ quan HCNN. Tuy nhiên, do cơ quan HCNN có những đặc điểm như tính thứ bậc và chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền theo quy định, nên quyền hạn của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh chỉ được giới hạn trong phạm vi được phân công, phân cấp theo quy định pháp luật.

Ba là, việc chịu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN.

Theo nghĩa rộng, “chịu trách nhiệm” là nhận trách nhiệm về sự thành, bại của một công việc, công tác đã nhận, là hệ quả một người phải nhận lấy từ sự ràng buộc giữa quyền và nghĩa vụ: Làm tốt thì được khen thưởng, làm hỏng thì chịu phạt. Theo nghĩa này, được khen thưởng hay phải chịu phạt cũng đều có nghĩa là chịu trách nhiệm. Theo nghĩa hẹp, chịu trách nhiệm đồng nghĩa với sự trừng phạt, là việc phải gánh chịu một hậu quả bất lợi từ việc thực hiện không đúng, không tốt các nghĩa vụ và quyền. Trong bài viết này, tác giả hiểu “chịu trách nhiệm” theo nghĩa hẹp, là chế tài chịu trách nhiệm.

Nếu kết quả thực hiện những nghĩa vụ và quyền không tốt, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh sẽ phải chịu trách nhiệm. Trong bài viết này quan niệm “kết quả” là những gì có được sau quá trình quản lý, bao gồm kết quả trực tiếp và kết quả cuối cùng. Kết quả trực tiếp được xác định về định lượng khối lượng công việc hoàn thành của người đứng đầu cơ quan HCNN. Kết quả cuối cùng là tác động, ảnh hưởng đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ có ý nghĩa xã hội của cơ quan HCNN(5).

Tương ứng với quyền quyết định cao nhất, bao quát các lĩnh vực, các hoạt động của cơ quan HCNN, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh phải là người chịu trách nhiệm về các lĩnh vực, các hoạt động cũng như về kết quả hoạt động của cơ quan HCNN. Người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trước các chủ thể khác nhau với các hình thức chế tài khác nhau tùy thuộc vào đó là loại hình trách nhiệm chính trị, pháp lý hay đạo đức.

2.2. Đặc điểm trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh

Một là, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh mang tính xã hội sâu sẳc.

Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN mang tính xã hội sâu sắc. Trước hết, về mặt lợi ích, người đứng đầu cơ quan HCNN có trách nhiệm với toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đặc điểm này gắn liền với một nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp nước ta, đó là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân...” (Khoản 1, 2, Điều 2). Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung và phát triển nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (khoản 3, Điều 2). Điều này thể hiện rằng, tất cả những người làm việc trong bộ máy của nhà nước đều phải có trách nhiệm đối với nhân dân và đất nước.

Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước mang tính chấp hành, điều hành, có chức năng quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công, do đó, có tác động trực tiếp và rộng rãi đến các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, là cầu nối để chính sách, pháp luật được hiện thực hóa trong thực tiễn. Do vậy, việc thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nói chung, cấp tỉnh nói riêng đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới lợi ích của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội. Vì vậy, có thể nói, hoạt động quản lý, lãnh đạo của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước tác động mạnh mẽ đến sự vận hành của xã hội, gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống của người dân ở từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực. Nếu địa phương, ngành, lĩnh vực kém phát triển, thì xã hội trước hết quy trách nhiệm cho các cơ quan hành chính nhà nước, mà đại diện là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước.

Tính xã hội trong hoạt động của người đứng đầu cơ quan HCNN còn thể hiện ở tính chất thường xuyên, liên tục của các hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ công. Công việc của người đứng đầu cơ quan HCNN rất khác với các vị trí người đứng đầu trong cơ quan lập pháp hay tư pháp. Hoạt động chấp hành và điều hành được thực hiện hằng ngày, hằng giờ đối với mọi vấn đề xã hội thuộc thẩm quyền.

Hai là, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh là trách nhiệm cá nhân.

Đặc điểm này có hàm nghĩa rằng: Trong mỗi một cơ quan HCNN cụ thể, khi nói đến “người đứng đầu” đồng nghĩa với việc chỉ đích danh một cá nhân duy nhất, người nắm giữ vị trí cao nhất trong cơ quan HCNN. Do đó, “người đứng đầu cơ quan HCNN” không phải là thuật ngữ dùng để chỉ tập thể, số nhiều. Trong công tác lãnh đạo, điều hành, có ba chế độ lãnh đạo, điều hành (chế độ làm việc) cơ bản: Thứ nhất, lãnh đạo, điều hành dựa trên vai trò cá nhân của người đứng đầu (còn gọi là chế độ thủ trưởng) - hình thành nên thiết chế người đứng đầu; Thứ hai, lãnh đạo, điều hành dựa trên nguyên tắc quyền lực tập thể - là chế độ tập thể lãnh đạo; Thứ ba, lãnh đạo, điều hành kết hợp giữa vai trò tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách(6)... Như vậy, thiết chế “người đứng đầu” là thiết chế thủ trưởng (cá nhân). Chế độ người đứng đầu (một số thuật ngữ khác có hàm nghĩa tương đương: Chế độ thủ trưởng, chế độ một người đứng đầu...) là nguyên tắc quản lý trao cho cá nhân người đứng đầu một tổ chức quyền rộng rãi để thực hiện nhiệm vụ chức năng được giao, định rõ trách nhiệm của cá nhân đó đối với kết quả công việc.

Chính vì vậy, trong một tổ chức cụ thể, dựa trên địa vị chính thức mang tính pháp lý, vị trí người đứng đầu luôn luôn chỉ là một cá nhân duy nhất. Đây là điểm khác biệt đặc biệt có ý nghĩa khi xem xét, thực hiện, quy kết trách nhiệm của người đứng đầu. Có thể thấy “người đứng đầu” là thuật ngữ có tính xác định tuyệt đối và do đó, trách nhiệm của người đứng đầu cũng mang tính xác định tuyệt đối. Đó là trách nhiệm đích danh của một người duy nhất, người có vị trí pháp lý cao nhất trong tổ chức - người đứng đầu.

Ba là, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có tính bao quát, thể hiện trên các mặt như sau:

Thứ nhất, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có nghĩa vụ đối với mọi vấn đề trong quá trình quản lý cơ quan HCNN.

Thứ hai, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh không chỉ có trách nhiệm về những hoạt động của bản thân trong thực hiện nghĩa vụ, quyền mà còn phải có trách nhiệm về những hoạt động của cán bộ, công chức dưới quyền trong thi hành nhiệm vụ (liên đới trách nhiệm).

Thứ ba, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh vừa phải có trách nhiệm với tư cách là một cán bộ công chức bình thường, vừa phải có trách nhiệm với tư cách là người đứng đầu cơ quan HCNN. Nếu cùng một hành vi vi phạm pháp luật công vụ, so với các cán bộ, công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý, thông thường mức độ trách nhiệm của người đứng đầu sẽ cao hơn một bậc.

Thứ tư, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh không chỉ có trách nhiệm đối với nội bộ hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà còn có trách nhiệm đối với xã hội là các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.

Từ những nội dung phân tích trên có thể hiểu người đứng đầu cơ quan HCNN là thuật ngữ dùng để chỉ thiết chế giữ vị trí pháp lý, quyền và nghĩa vụ cao nhất trong cơ quan HCNN, thực hiện vai trò lãnh đạo quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan HCNN. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN nên làm, phải làm, được làm với kết quả tốt và những điều không được làm; Nghĩa vụ, quyền và chịu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN trong tuân thủ pháp luật và phục vụ nhân dân; trong lập kế hoạch, ra quyết định và điều hành chỉ đạo hoạt động của cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước và nhân dân giao phó.

3. Nội dung pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh

Tại Điều 10, Luật Cán bộ công chức quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước như sau:

Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân; Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, trách nhiệm người đứng đầu còn được quy định tại tại Điều 7, Nghị định 157/2007/NĐ-CP quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ của chính phủ, quy định về nội dung chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu. Bên cạnh đó, việc thực hiện hiện những nội dung quy định của pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu nêu trên người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh còn phải thực hiện những nhiệm vụ quy định tại Điều 22 Luật Tổ chức chính quyền địa phương(7).

Theo những quy định trên, người đứng đầu cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hành chính Nhà nước (HCNN) cấp tỉnh nói riêng có nghĩa vụ rất cụ thể và rõ ràng. Mỗi trách nhiệm này đều phải được thực hiện đúng, đủ và hoàn thành hết khả năng để đem lại hiệu quả cao nhất. Cụ thể, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh bao gồm các nội dung sau:

Nội dung trách nhiệm trả lời câu hỏi: người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có trách nhiệm về cái gì? Tiếp cận theo logic của quá trình quản trị, nhà quản trị có trách nhiệm trong việc sử dụng các nguồn lực đầu vào (gồm nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin), trách nhiệm thực hiện các hoạt động quản trị (gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra) và trách nhiệm về kết quả đầu ra của quá trình. Các nội dung này thể hiện qua sơ đồ sau:

3.1. Trách nhiệm sử dụng các nguồn lực đầu vào

Mọi tổ chức, bất kỳ loại gì, vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận, lớn hay nhỏ, đều dùng đến bốn nguồn lực chủ yếu: nhân lực, tài lực, vật lực và thông tin(8). Do đó, người đứng đầu cơ quan HCNN có trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng các nguồn lực này trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan HCNN, bao gồm:

-  Trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức;

-Trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài chính công;

-  Trách nhiệm trong quản lý, sử dụng các tài sản công;

-  Trách nhiệm trong quản lý, sử đụng thông tin.

Nhìn chung, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý, sử dụng các nguồn lực này trước hết đảm bảo tính hiệu lực, đúng quy định pháp luật, phục vụ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của cơ quan HCNN, sau đó, có trách nhiệm đảm bảo tính hiệu quả, không để xảy ra lãng phí, thất thoát, tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước và sự đóng góp của người dân.

3.2. Trách nhiệm thực hiện các hoạt động lãnh đạo, quản lý

Người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đúng, đủ những mục đích và hoạt động quản lý cần đạt được. Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của người đứng đầu cơ quan HCNN lên đối tượng được người đứng đầu cơ quan HCNN quản lý. Là tập hợp rất nhiều những hành vi khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý công vụ, các hoạt động lãnh đạo, quản lý phải được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn và phải mang tính bao quát cao đối với công việc. Phải đạt được đúng mục đích của việc quản lý. Tức là, những người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh phải quản lý cơ quan của mình sao cho đúng, đưa ra những hướng đi đúng đắn cho cả tập thể cán bộ, công chức của cơ quan nhằm thực hiện đúng nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó. Người đứng đầu đóng vai trò là người lãnh đạo, quản lý, do đó họ có trách nhiệm thực hiện tốt vai trò này.

Trong trách nhiệm thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý thì các khía cạnh quan trọng nhất của quản lý, lãnh đạo bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đồng thời, xác định tương lai sẽ như thế nào. Quan trọng hơn cả là làm thế nào để có thể truyền cảm hứng cho nhân viên là cán bộ, công chức để họ hoàn thành tốt nhất những mục tiêu đã đặt ra trước đó ngay cả khi gặp phải khó khăn. Nếu các chức năng này thực hiện không tốt sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực đầu vào đồng thời ảnh hưởng đến kết quả đầu ra của quá trình lãnh đạo, quản lý của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh.

Như vậy, việc thực hiện chức năng quản lý đóng vai trò rất quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ được giao và trách nhiệm đối với những hoạt động quản lý mà người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh cần thực hiện.

3.3. Trách nhiệm về kết quả đầu ra của quá trình quản lý, lãnh đạo

Bất kỳ hoạt động lãnh đạo, quản lý nào cũng cần có được những hiệu quả hoạt động nhất định. Nếu hiệu quả không được hoàn thành, thì bị coi là không hoàn thành nhiệm vụ và người lãnh đạo, quản lý hoạt động đó phải chịu trách nhiệm vì những gì chưa làm được hoặc chưa làm tốt. Trách nhiệm về kết quả của hoạt động lãnh đạo trong quá trình quản lý chính là những gì chúng ta nhìn thấy được hay đạt được sau quá trình thực hiện công tác lãnh đạo, quản lý.

Kết quả này cũng được chia làm hai loại chính:

Thứ nhất là kết quả về khối lượng, số lượng công việc được hoàn thành hay lượng dịch vụ được cung cấp. Đây được gọi là kết quả trực tiếp từ hoạt động lãnh đạo, quản lý của người đứng đầu cơ quan HCNN. Người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có trách nhiệm đối với số lượng các quyết định quản lý được ban hành và số lượng, khối lượng dịch vụ công mà cơ quan HCNN cung cấp cho xã hội. Trong phạm vi thẩm quyền, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành đầy đủ về số lượng các quyết định quản lý nhằm thực hiện các chức năng quản lý HCNN. Đồng thời, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý việc cung cấp cho xã hội các loại hình dịch vụ công cơ bản như: dịch vụ hành chính công (cấp phép, kiểm duyệt, công chứng, chứng thực…), dịch vụ sự nghiệp công (giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, thể thao, văn hóa xã hội…), dịch vụ công cộng (cung cấp điện, nước sạch, xử lý nước và chất thải, cây xanh, chiếu sáng công cộng, vận tải, tài chính ngân hàng, bảo hiểm…).

Thứ hai là kết quả gián tiếp hay nói cách khác là hành động lãnh đạo, quản lý công vụ của người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có tạo nên sự thay đổi tích cực nào đó đến xã hội, môi trường hay điều kiện sống của con người hay không. Khi thực hiện hoạt động quản lý, người đứng đầu cơ quan nhà nước hướng tới những mục tiêu gần đó là bảo vệ quyền, lợi ích của nhà nước, thực hiện những nhiệm vụ mà nhà nước giao phó. Còn những mục tiêu lớn hơn như người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh có trách nhiệm nâng cao chất lượng và mức sống của con người, tạo ra được một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân trong phạm vi địa bàn, lĩnh vực mình quản lý. Những kết quả này khó mà đánh giá được. Tuy nhiên, chúng ta sẽ nhìn thấy nó thông qua những “hậu quả”. Ví dụ, môi trường càng ngày càng ô nhiễm. Nguyên nhân là do đâu? Do ý thức của người dân kém hay công tác quản lý chưa tốt. Vấn đề này rất khó để nhận ra, tuy nhiên, người ta vẫn mong rằng Nhà nước ta có những hoạt động tốt nhất để làm giảm ô nhiễm môi trường. Kết quả gián tiếp này chỉ ra từ góc độ xã hội và là trách nhiệm cao nhất, quan trọng nhất của người đứng đầu các cơ quan HCNN. Kết quả này còn được đánh giá thông qua chỉ số phúc lợi xã hội đạt được qua mỗi thời kỳ, nó có thể không rõ ràng ngay từ ban đầu nhưng nếu có thành quả, thì đây được coi là đích đến đáng chú ý nhất của những nhà lãnh đạo cốt cán. Đây cũng là kết quả cuối cùng mà nhà nước và nhân dân cũng như bản thân người đứng đầu mong muốn.

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc hiện thực hóa trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan HCNN nói chung, cấp tỉnh nói riêng. Hiện thực hóa trách nhiệm người đứng đầu là sự thể hiện cụ thể, chi tiết kết quả của toàn bộ trọng trách, nhiệm vụ được giao trên thực tế chứ không chỉ trên giấy tờ hay những bài phát biểu hội thảo. Các yếu tố này bao gồm cả những yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.

Các yếu tố khách quan bao gồm các yếu tố thuộc về nhà nước (thể chế, tổ chức bộ máy, tài chính, nhân sự); các yếu tố về điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội và yếu tố công dân. Để người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh thực hiện tốt công việc được giao, hệ thống pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu phải đảm bảo các yêu cầu: Xác định rõ vị trí, vai trò; các yếu tố nghĩa vụ, quyền và cơ chế chịu trách nhiệm của người đứng đầu cũng như phải đảm bảo được sự thống nhất tương thích giữa các yếu tố trên.

Các yếu tố chủ quan gồm năng lực và đạo đức của bản thân người đứng đầu cơ quan HCNN. Đây là một yếu tố quan trọng để góp phần giúp người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh những trách nhiệm nêu trên, người đứng đầu cơ quan HCNN cấp tỉnh cần tuân thủ những quy tắc nhất định trong hoạt động thực thi công quyền. Các nguyên tắc trong thi hành công vụ bao gồm có năm nguyên tắc cơ bản sau(9): Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật: Hiến pháp và pháp luật là những yếu tố cơ bản để xây dựng nhà nước vững mạnh và bền chặt. Vì vậy, những người lãnh đạo nhất định phải tiên phong trong việc tuân thủ Hiến pháp cũng như tất cả các quy định của nhà nước để trở thành những tấm gương sáng để cán bộ cấp dưới cũng như nhân dân noi theo.

Như vậy, nội dung pháp luật về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan HCNN được thể hiện khá ngắn gọn. Có sự tùy nghi theo hoàn cảnh cụ thể do người đứng đầu lựa chọn phù hợp với sự phát triển cũng như điều kiện của cơ quan mình quản lý. Khi Nhà nước cung cấp các nguồn lực (nhân lực, tài chính công, tài sản công, thông tin) thì người đứng đầu cơ quan HCNN phải thực hiện các hoạt động như: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra và cuối cùng là xác định kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ đó. Kết quả của hoạt động chính là thể hiện năng lực của người đứng đầu./.

TS. Nguyễn Minh Phú

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Chú thích:

(1)Nguyễn Minh Phú (2018), Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8 (360), tr. 3-12.

(2)Đặng Xuân Phương (2011), Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

(3) (5)Nguyễn Đăng Thành (2012), chủ biên, Đo lường và đánh giá hiệu quả quản lý hành chính nhà nước - Những thành tựu trên thế giới và ứng dụng ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội.

(4)Bùi Đức Lại, Về trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cản bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng Online, http://www.xaydungdang.org.vn/Home/dien-dan/2007/1608/Ve-trach-nhiem-nguoi-dung-dau-trong-cong-tac-can-bo.aspx, đăng ngày 3/6/2007.

(6)Nguyễn Đăng Tấn, Gắn với trách nhiệm để đánh giá cán bộ, trang http://tuanviet nam.vietnamnet.vn/2012-02-28-gan-voi-trach-nhiem-de-danh-gia-can-bo, đăng ngày 29/2/2012.

(7) Xem thêm quy định tại tại Điều 7, Nghị định 157/2007/NĐ-CPĐiều 22 Luật Tổ chức chính quyền địa phương;

(8) Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Khoa học Quản lý (2009), Giáo trình Quản trị học, Nxb Tài chính, Hà Nội;

(9) Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Cán bộ công chức 2008, Điều 3, thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2010.