1. Tham nhũng với đầu tư công trong lý thuyết kinh tế học thể chế

Theo lý thuyết kinh tế học công cộng thì người có chức vụ quyền hạn(1) thường bị chi phối bởi lợi ích cá nhân mà một trong những biểu hiện của nó là tham nhũng, hối lộ. Thực tế cho thấy, chỉ cần một mức hối lộ nhỏ trong một dự án công có chi phí lên tới hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu đôla cũng sẽ trở thành một khoản tiền đủ để cám dỗ tham nhũng. Khi người có chức vụ quyền hạn bị chi phối bởi hành vi vụ lợi, họ sẽ có động cơ để tham gia kiểm soát và gây ảnh hưởng tới các quyết định liên quan tới quy mô tổng mức chi đầu tư, lựa chọn các dự án đầu tư, thiết kế dự án và quá trình triển khai dự án. Hệ quả là việc kiểm soát chi tiêu đầu tư gặp khó khăn, dự án được đầu tư khi chưa thực sự cần thiết; dự án được đầu tư với quy mô và công suất không phù hợp với nhu cầu; dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật không phù hợp so với nhu cầu; dự án được đầu tư ở thời điểm và địa điểm không hợp lý, thiết bị công trình của dự án có chất lượng thấp làm giảm tuổi thọ của dự án… Như vậy, tham nhũng có thể bóp méo toàn bộ quá trình ra quyết định liên quan đến ngân sách đầu tư.

Bên cạnh đó, những biểu hiện của tham nhũng thường là độc quyền, che giấu, bưng bít thông tin, thiếu trách nhiệm giải trình. Tức là, tham nhũng đi kèm với cơ chế thông tin thiếu minh bạch, bưng bít. Điều này khiến cho Chính phủ không thể nắm bắt được những nhu cầu thực của xã hội về một loại hàng hóa và dịch vụ nào đó mà vẫn tiếp tục mở rộng đầu tư trong khi khoản đầu tư này có thể được thực hiện và quản lý hiệu quả hơn bởi khu vực tư nhân. Như vậy, có thể thấy, ngay từ khâu quyết định chi ngân sách cho các dự án đầu tư công, dưới ảnh hưởng của tham nhũng, quy mô đầu tư công có xu hướng bị mở rộng.

Bổ sung cho lập luận dựa trên lý thuyết kinh tế học công cộng về hành vi vụ lợi, tác giả bài viết nghiên cứu tác động của tham nhũng đối với đầu tư công dựa trên lý thuyết kinh tế học thể chế để hiểu rõ cơ chế tác động của nó.

Theo nhà kinh tế học thể chế đoạt Giải Nobel Douglass C. North khẳng định vào năm 1990 thì: Sự phát triển giàu có của một quốc gia không phải chủ yếu do nó giàu có tài nguyên như dầu mỏ, cũng không phải do sự cần cù của số đông người lao động mà chủ yếu là do các yếu tố kích thích gắn kết bên trong về các thể chế quản lý và tổ chức cho phép thúc đẩy đầu tư và phát triển. Một sự phát triển lâu bền không thể dựa vào một thể chế bị lũng đoạn bởi tham nhũng. Và một nền kinh tế lạc hậu không phải không thể bao giờ đuổi kịp được các nước tiên tiến. Vấn đề là phải tạo lập một hệ thống thể chế tích cực nhằm đảm bảo quyền sở hữu của các cá nhân và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Việc cải cách thể chế là cần thiết để đảm bảo sự phát triển. Thể chế tốt tạo ra một môi trường kinh tế có khả năng khuyến khích sự sáng tạo, thúc đẩy sản xuất và đem lại tăng trưởng bền vững.

Xét cho cùng, thể chế yếu kém sinh ra tham nhũng và khi tham nhũng phát triển mạnh sẽ tác động trở lại ngăn cản những động lực cải cách thể chế. Hệ quả là tham nhũng sẽ triệt tiêu những tác động tích cực mà thể chế đem lại đối với thị trường như: hỗ trợ thông tin, tăng cường tính cạnh tranh, giảm chi phí giao dịch, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo vệ quyền về tài sản… Tất cả những yếu tố thể chế này đều liên quan mật thiết và ảnh hưởng tới đầu tư công.

Lý thuyết thể chế cũng chỉ ra rằng bất kỳ giao dịch kinh tế nào (kể cả giao dịch trong đầu tư công) thực chất là giao dịch về dịch chuyển các quyền về tài sản. Do đó, nếu các quyền về tài sản không được xác định rõ ràng và không được bảo vệ thì chi phí phát sinh sẽ lớn. Nói như vậy tức là tham nhũng đã gián tiếp làm tăng phí tổn cho các hoạt động kinh tế. Chẳng hạn, trong các dự án đầu tư công, khi tham nhũng ở mức độ cao, các loại “chi phí bôi trơn” cũng tăng theo. Các khoản “phí giao dịch” này được bôi trơn từ các khâu phê duyệt dự án, chọn nhà thầu cho đến khâu triển khai thi công. Điều hiển nhiên là các khoản “bôi trơn” luôn được hợp thức hóa dưới các khoản mục chi tiêu đầu tư hợp lý, cũng có nghĩa là chi phí cho đầu tư có hàm chứa khoản “chi phí giao dịch”. Chi phí giao dịch càng lớn sẽ càng làm gia tăng quy mô chi tiêu đầu tư.

leftcenterrightdel
Đầu tư công cần các cơ quan quản lý nhà nước giám sát, thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm để đảm bảo phát huy hiệu quả. Ảnh: PV&BT 

2. Cơ chế tham nhũng tác động tiêu cực đến các dự án đầu tư công

Từ lý thuyết và thực tiễn cho thấy tham nhũng tác động tiêu cực đến các dự án đầu tư công thông qua một số khía cạnh sau:

Trước hết, tham nhũng tác động vào quá trình phê duyệt chi tiêu đầu tư, hay còn gọi là “bẻ cong” nguồn vốn từ dự án hiệu quả sang dự án thiếu hiệu quả hoặc dự án có mức độ cần thiết chưa cao. Đầu tư, xây dựng cơ bản là lĩnh vực xảy ra tham nhũng hết sức phổ biến. Đây là lĩnh vực thường có số vốn đầu tư rất lớn từ ngân sách Nhà nước, trong khi đó cơ chế quản lý lại tương đối lỏng lẻo, chính vì vậy tham nhũng xảy ra nhiều, đồng thời số tiền bị thất thoát thường rất lớn. Trong lĩnh vực này, tham nhũng xảy ra ở mọi công đoạn, từ khâu quy hoạch, lập, duyệt dự án, thiết kế, thi công, thanh tra, kiểm tra, đến nghiệm thu thanh toán, quyết toán…(2)

Thứ hai, ngay từ khâu phê duyệt ngân sách hoặc khâu triển khai dự án, dưới ảnh hưởng của tham nhũng, chi phí của các dự án công bị “đội lên” trên mức cần thiết.

Cuối cùng, tham nhũng gây ảnh hưởng ở khâu thực hiện dự án. Sự thiếu minh bạch và cơ chế giám sát lỏng lẻo được tạo nên từ hành vi tham nhũng dẫn đến chất lượng đầu tư suy giảm. Đặc biệt, trong đầu tư xây dựng cơ bản, có thể thấy nhiều biểu hiện xuống cấp nhanh chóng của cơ sở hạ tầng. Xét cho cùng, sự gia tăng chi phí đầu tư không đi kèm với chất lượng dẫn đến hiệu suất đầu tư công thấp.

3. Đánh giá hiệu quả đầu tư công hiện nay và khuyến nghị thể chế

Hiện nay, đầu tư công của Việt Nam được đánh giá là dàn trải, thiếu hiệu quả và lãng phí. Một trong những nguyên nhân được các nhà nghiên cứu chỉ ra là do cơ chế thiếu minh bạch, tham nhũng, hối lộ. Do đó, cần phải tăng cường xây dựng cơ chế và thể chế giám sát trong quản lý ngân sách đầu tư công. Để hạn chế tình trạng tham nhũng, cần tăng cường hơn nữa trách nhiệm giải trình của người quản lý và người sử dụng vốn đầu tư. Ngoài ra, cần đẩy mạnh tính công khai hóa, minh bạch hóa trong mọi khâu của quá trình đầu tư công. Tất cả các dự án công có quy mô lớn cần phải được phân tích chi phí lợi ích và phải được công khai rõ ràng các khoản chi phí của dự án, kết quả mong đợi, đầu ra của dự án, các nguồn tài trợ cho dự án…

Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã chứng minh được mối quan hệ cùng chiều giữa tham nhũng và quy mô đầu tư công. Tham nhũng ở mức độ cao (chỉ số đo lường tham nhũng tăng) thường đi cùng với quy mô đầu tư công gia tăng và chất lượng đầu tư công suy giảm thể hiện thông qua sự giảm sút của chất lượng cơ sở hạ tầng. Điều này chính là bằng chứng xác thực, góp phần cảnh báo sự ảnh hưởng nghiêm trọng của tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư công ở Việt Nam.

Thực chất, sự gia tăng của đầu tư công của Việt Nam không đơn thuần do sự theo đuổi mô hình tăng trưởng vốn mà cốt lõi vấn đề có phần bắt nguồn từ chất lượng thể chế, cụ thể là do cơ chế thiếu minh bạch, tham nhũng cao. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường hiệu quả đầu tư công, ngoài thực hiện chính sách tái cơ cấu đầu tư, còn cần phải quan tâm hoàn thiện môi trường thể chế, đặc biệt là tăng cường tính minh bạch, hạn chế tham nhũng trong hoạt động đầu tư công./.

 Ths. Lê Quang Kiệm

Cục Quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai

Chú thích:

 (1) Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;

(2) Http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201306/nhung-linh-vuc-thuong-xay-ra-tham-nhung-291483/.