Tham nhũng trong khu vực tư xảy ra trên nhiều lĩnh vực như: Cung cấp dịch vụ điện nước, cơ sở hạ tầng, cho thuê mặt bằng hay tình trạng móc nối, hối lộ trong lĩnh vực ngân hàng để cho vay sai nguyên tắc, một số nhân viên ngân hàng, kho bạc, quỹ tín dụng lợi dụng nhiệm vụ được giao để mua chứng khoán hoặc cho vay lại với lãi suất cao hơn, khi bị thua lỗ, lừa đảo mất khả năng trả nợ, gây thiệt hại lớn. Đặc biệt, đã xuất hiện loại tội phạm tham nhũng mới với tính chất hết sức nghiêm trọng như tham ô, cố ý làm trái và lừa đảo qua mạng hay các tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán (như sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán - giao dịch nội gián hay thao túng giá chứng khoán…)

 Trên thực tế tham nhũng không chỉ có trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khu vực nhà nước mà giữa các doanh nghiệp với nhau cũng xảy ra hiện tượng tham nhũng. Trong nội bộ các doanh nghiệp tư nhân, cũng xảy ra hiện tượng một số người lợi dụng quyền hạn được giao chiếm đoạt tài sản; hay sự thiếu minh bạch và lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng, các loại quỹ có huy động các khoản đóng góp của nhân dân… đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Đồng thời, dưới góc độ kinh tế, tham nhũng trong lĩnh vực tư sẽ làm tăng chi phí và giảm đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp, làm hình thành những thói quen kinh doanh thiếu lành mạnh, làm méo mó bản chất các quan hệ kinh tế.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa 

Theo lý thuyết kinh tế, tham nhũng được nhìn nhận trên hai quan điểm đó là: Tham nhũng là yếu tố ngoại sinh và cũng là nhân tố nội sinh trong chính trị. Nếu áp dụng một trong hai quan điểm trên, tham nhũng được chia thành ba loại cơ bản như sau: Một là, tham nhũng để đẩy nhanh tiến độ; hai là, tham nhũng hành chính và ba là tham nhũng nhằm “bẻ cong pháp luật”. Cụ thể:

Đối với tham nhũng để đẩy nhanh tiến độ: Là việc thực hiện một quyền cụ thể nào đó mà công dân hoặc pháp nhân nào đó có quyền được hưởng một lợi ích cụ thể là vật chất hoặc phi vật chất nhưng không phải là “ăn cắp”. Ví dụ: Một người nào đó đút lót cho công chức phụ trách cấp phép đăng ký kinh doanh để được cấp giấy phép nhanh hơn theo quy định, tức là không có rào cản pháp lý nào đối với việc cấp phép đăng ký kinh doanh của công chức đó, thì đây chính xác là loại tham nhũng để đẩy nhanh tiến độ. Một hình thức cụ thể và rõ hơn của nó là hối lộ người có quyền để họ “ưu tiên” giải quyết vấn đề gì đó nhưng hoàn toàn hợp pháp. Nói cách khác, các công chức nhận đút lót mới làm công việc của họ hoặc làm công việc đó nhanh hơn thường lệ, thay vì không làm hoặc chưa làm ngay.

Đối với tham nhũng hành chính: Là vi phạm các quy định của pháp luật, hoặc việc thực thi pháp luật mang nặng tính thiên vị. Đây là tham nhũng trong bộ máy hành chính Nhà nước và là loại tham nhũng được nói tới nhiều nhất - đại đa số những đóng góp về lý thuyết trong lĩnh vực này đều bàn về tham nhũng trong bộ máy hành chính Nhà nước. Loại tham nhũng này phù hợp với mô hình cấp trên - cấp dưới trong tham nhũng vì toàn bộ việc thực hiện tham nhũng đều do các công chức gây ra. Hậu quả trực tiếp nghiêm trọng nhất của loại tham nhũng này là các đạo luật và chính sách của nhà nước không được thực hiện một cách công bằng.

Đối với tham nhũng nhằm “bẻ cong pháp luật”: Mục đích thay đổi các quy định của pháp luật thành những quy định phục vụ cho quyền lợi của những kẻ tham nhũng. Có thể hiểu “bẻ cong luật pháp” như sau, đó là “Các đạo luật và chính sách của nhà nước chịu sự chi phối của một số ít chính trị gia hoặc những doanh nhân rất có có thế lực đã hối lộ các đại biểu quốc hội. Nói cách khác, các chính sách của Nhà nước chắc chắn được ban hành để phục vụ thiểu số những kẻ có thế lực chứ không phải nhân dân nói chung”. Mặc dù hệ thống như vậy tồn tại trên thực tế và loại tham nhũng này có thể lý giải một số nhân tố cơ bản trong chính sách công ở nhiều quốc gia. Pháp luật của nhà nước có thể bị bẻ cong trước tình trạng vận động hành lang ồ ạt và tham nhũng.

Thực tiễn hiện nay, tham nhũng là một vấn nạn và thách thức đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Theo Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam năm 2017 đã chỉ ra rằng “tham nhũng được xem là một rủi ro lớn đối với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Hối lộ đã trở thành một vấn nạn trong kinh doanh và rất nhiều công ty xem đây là một vấn đề không tránh khỏi và không có cách giải quyết(2). Theo số liệu của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam đứng thứ 81 về Đạo đức và Tham nhũng; đứng thứ 109 về các Chi phí Không chính thức và Hối lộ trong tổng số 137 quốc gia được khảo sát(3).

Trong kinh doanh, doanh nghiệp được nhìn nhận đóng vai trò như “mắt xích kép” - Vừa là nạn nhân, vừa là tác nhân gây ra tham nhũng. Có đến 66% doanh nghiệp dân doanh trong nước đã phải chi trả các chi phí không chính thức và 59% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) phải trả chi phí không chính thức khi làm thủ tục hải quan(4). Đồng thời, 61,5% doanh nghiệp có hành vi biếu tiền và hầu như tất cả các doanh nghiệp đều có “lại quả” cho đối tác(5). Hầu như doanh nghiệp làm việc với cơ quan nhà nước nào cũng đều có chi phí không chính thức cho cơ quan đó. Trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trong kinh doanh, các hình thức tham nhũng ít được nhận diện hơn vì bản thân doanh nghiệp chưa tự nhận thức được vấn đề này. Hơn nữa, tham nhũng trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thuộc khu vực tư chưa phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, doanh  nghiệp cũng luôn sẵn sàng “lại quả” theo giá trị hợp đồng. Đây được xem như một thông lệ trong giao dịch để giữ mối quan hệ hay thúc đẩy các hoạt động khác như thanh toán, giao nhận… Trong bối cảnh tham nhũng trong khu vực tư, đặc biệt là trong kinh doanh đang ngày càng phát triển và có nguy cơ gây ra hệ lụy nghiêm trọng đối với sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội, một yêu cầu tất yếu đặt ra đó là phòng, chống tham nhũng trong kinh doanh cần phải tiến hành đồng bộ, song song với công tác phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư. Khu vực tư không chỉ là nạn nhân của tham nhũng mà còn là tác nhân, chủ thể gây nên tham nhũng bởi những hành vi đưa hối lộ đến những chủ thể có chức vụ, quyền hạn trong khu vực công để đạt được dự án hay sự ưu đãi đối với hoạt động kinh doanh của mình.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong cải cách hành chính, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, có nhiều đặc điểm của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập nhưng Việt Nam vẫn bị xếp hạng thấp nhất trong số sáu nước thành viên ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) xét về khía cạnh quản trị doanh nghiệp(6). Điều này chứng minh rằng Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của việc xây dựng và thực thi các chính sách liên quan đến chống hối lộ. Theo đánh giá tác động của dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi đã xác định, thực tiễn hiện nay cho thấy, tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước diễn ra khá nghiêm trọng, phức tạp. Tuy nhiên, nội dung này lại chưa được Luật Phòng, chống tham nhũng điều chỉnh. Nhiều quan điểm cho rằng nếu Luật Phòng, chống tham nhũng không đưa khu vực tư vào đối tượng điều chỉnh, kiểm soát thì việc phòng, chống tham nhũng trong khu vực công sẽ giảm đi hiệu quả đáng kể. Vì trong điều kiện hiện nay, sự kết nối các mối quan hệ công tư diễn ra trong nhiều lĩnh vực, chặt chẽ, đan xen lẫn nhau. Nhiều chuyên gia ví khu vực công - tư như “bình thông nhau”, bởi trong nhiều trường hợp, khu vực tư chính là nơi nơi trú ẩn, “rửa tiền”, là “sân sau” của những quan chức có hành vi tham nhũng trong khu vực công. Bởi vậy, việc phòng, chống tham nhũng sẽ không có ý nghĩa nếu bỏ qua khu vực tư và phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư cũng chính là để phòng, chống tham nhũng trong khu vực công. Đặc biệt, một trong 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được nêu rõ tại Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí liên quan đến phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng đó là “Từng bước mở rộng hoạt động phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước”.

Để phòng, chống tham nhũng hiệu quả trong khu vực tư, theo tác giả cần triển khai một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với doanh nghiệp, cần ý thức rõ về tác động tiêu cực của tham nhũng, lưu ý đến cả những tham nhũng vặt. Tăng cường chuẩn mực đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, quản trị tốt, tăng cường thực thi hiệu quả kiểm soát nội bộ, phòng ngừa tham nhũng, đào tạo hướng dẫn và hỗ trợ nhân viên. Phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư nên triển khai đồng bộ ở cả ba cấp độ, đó là: Trong nội bộ doanh nghiệp, với các đối tác kinh doanh và tham gia các hành động tập thể. Cụ thể:

Một là, trong nội bộ doanh nghiệp, xây dựng và áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng đã được chuẩn hóa như Bộ tiêu chuẩn ISO 37001(7) hoặc Bộ nguyên tắc phòng chống hối lộ trong kinh doanh(8); đánh giá sự liêm chính của người lao động thông qua việc kiểm tra tham chiếu với nơi làm việc trước đó của người lao động; áp dụng và thực thi hiệu quả chính sách kê khai nguy cơ xung đột lợi ích và phòng chống xung đột lợi ích(9). Thiết lập và đảm bảo việc vận hành hiệu quả kênh báo cáo tố cáo hành vi sai phạm, tham nhũng của doanh nghiệp (do doanh nghiệp tự vận hành hoặc thuê công ty dịch vụ độc lập) để tiếp nhận khiếu nại, tố cáo (kể cả ẩn danh) với chính sách, quy trình rõ ràng, dễ hiểu và tin cậy - làm cơ sở cho việc tăng cường giám sát thực thi các chính sách liêm chính của doanh nghiệp. Tùy theo điều kiện, doanh nghiệp có thể lựa chọn một đơn vị thứ ba thực hiện điều này để đảm bảo tính khách quan và bảo mật thông tin.

Hai là, với đối tác kinh doanh, cần rà soát đối tác kinh doanh trước khi quyết định hợp tác kinh doanh. Đưa vào phạm vi rà soát những tiêu chí liên quan tới hành vi tham nhũng, hối lộ trong quá khứ và năng lực phòng, chống rủi ro tham nhũng của đối tác.

Ba là, về việc tham gia các hành động tập thể, nên ủng hộ và tham gia các hành động tập thể của hiệp hội, câu lạc bộ, nhóm doanh nghiệp như nhóm công tác về Quản trị và Liêm chính (GIWG) thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF), sáng kiến Liêm chính trong kinh doanh trong khuôn khổ Đề án 12 của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI)… để cùng thúc đẩy và chia sẻ các chuẩn mực và thông lệ tốt về liêm chính trong kinh doanh, bảo vệ những doanh nghiệp là nạn nhân của tham nhũng, tố cáo những doanh nghiệp sử dụng tham nhũng để trục lợi và gây tổn hại tới doanh nghiệp khác.

Thứ hai, Nhà nước cần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho doanh nghiệp tham gia phòng, chống tham nhũng; một khuôn khổ thể chế đầy đủ, chặt chẽ, thống nhất và xem đó là điều kiện tiên quyết để phòng, chống tham nhũng hiệu quả trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay. Cụ thể, Chính phủ cần tiếp tục cải cách và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trên cơ sở cân nhắc các văn bản luật chuyên ngành liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Hải quan, các luật về thuế… để loại bỏ những quy định gây cản trở sự lành mạnh và thông suốt của môi trường kinh doanh theo định hướng của Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020.

Nội luật hóa và thực thi Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng theo đúng lộ trình, phù hợp với điều kiện và pháp luật của Việt Nam. Từng bước mở rộng đối tượng phòng, chống tham nhũng, trước hết cần lựa chọn khu vực tư có nguy cơ cao phát sinh hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn và hành vi đó gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội và cá nhân, tổ chức có liên quan./.

Luật gia - Ths. Lê Quang Kiệm

                                                                            Thanh tra tỉnh Đồng Nai  

Chú thích:

(1) Lê Quang Kiệm (2018), “Sửa đổi, bổ sung khái niệm và chủ thể của tham nhũng góp phần hoàn thiện các quy định về phát triển và xử lý tham nhũng hiện hành”, http://tcdcpl.moj.gov.vn, ngày 30/7/2018;

(2) Phân tích về rủi ro tham nhũng đối với các nhà đầu tư ở Việt Nam, tháng 2 năm 2017 (http://www.vbf.org.vn/en/documentation-center/governance-and-transparency-working-group.html?view=docman);

(3) https://www.weforum.org/reports/the-global-competitiveness-report-2017-2018;

(4) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2015, trang 18, 91;

(5)Sáng kiến Xây dựng tính Nhất quán và Minh bạch trong Quan hệ KD tại Việt Nam - ITBI;

(6)Báo cáo Thẻ điểm Quản trị doanh nghiệp của khu vực ASEAN năm 2015 https://www.adb.org/sites/default/files/publication/375481/asean-cgscorecard-2015.pdf;

(7) Tổ chức Tiêu chuẩn hoá thế giới, Bộ tiêu chuẩn ISO 37001 về Chống Hối lộ;

(8)Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Bộ Nguyên tắc Phòng chống Hối lộ trong Kinh doanh, 2013; 

(9) Tham khảo Chính sách và quy trình quản lý xung đột lợi ích trong kinh doanh của Tổ chức Hướng tới Minh bạch.