Thứ nhất, về mô hình tổ chức và chức năng nhiệm vụ - địa vị pháp lý của Ban TCD các cấp:

Theo nguyên tắc, quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội (trừ hoạt động tố tụng, tư pháp) thì Nhà nước ta chỉ đạo điều hành theo chiều dọc (từ Trung ương xuống cơ sở) và chỉ đạo theo chiều ngang (chính quyền các cấp chỉ đạo các cơ quan trực thuộc cùng cấp). Theo đó, tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu quản lý Nhà nước theo từng lĩnh vực phải được được thiết kế thống nhất để phục vụ sự chỉ đạo điều hành theo nguyên tắc như đã nêu. Tuy vậy, mô hình cơ quan TCD (Ban TCD) theo quy định của Luật TCD từ Trung ương xuống địa phương không thống nhất. Ở Trung ương, cơ quan TCD trực thuộc Thanh tra Chính phủ, còn ở địa phương thì thuộc Văn phòng UBND các cấp nên rất khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai chỉ đạo điều hành các nội dung về công tác TCD. Mặt khác, Văn phòng UBND các cấp (trong đó có Ban TCD) là cơ quan có chức năng tổng hợp, tham mưu chứ không phải cơ quan chuyên môn nên công tác tham mưu TCD (thuộc Văn phòng UBND các cấp) gắn với giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hệ thống giữa các cấp (thuộc ngành Thanh tra) bị chia cắt, rời rạc, chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật TCD thì Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về công tác TCD. Trong khi đó, ở địa phương, chỉ quy định UBND các cấp thực hiện quản lý công tác TCD trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà không quy định cơ quan chuyên môn trực thuộc nào tham mưu UBND cùng cấp thực hiện việc quản lý Nhà nước về TCD, dẫn đến rất khó khăn, lúng túng cho chính quyền địa phương trong chỉ đạo, điều hành cơ quan trực thuộc tham mưu các nội dung quản lý Nhà nước về công tác TCD. Việc ở địa phương thiếu, còn có “khoảng trống” quy định về cơ quan tham mưu quản lý Nhà nước về công tác TCD bắt nguồn từ việc bố trí mô hình tổ chức cơ quan TCD thiếu thống nhất từ Trung ương xuống địa phương. Và nếu giao Văn phòng UBND các cấp (trong đó có Ban TCD - tương đương phòng ở cấp tỉnh và chuyên viên ở cấp huyện) tham mưu UBND các cấp quản lý Nhà nước về công tác TCD thì cũng không phù hợp chức năng nhiệm vụ.

Theo quy định của Luật TCD và từ yêu cầu của thực tiễn, Ban TCD không chỉ là tiếp cá nhân, tổ chức rồi tiếp nhận đơn thư, nghiên cứu, phân tích, sau đó tham mưu chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết (nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cùng cấp) mà còn có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc kết quả giải quyết, tổng hợp báo cáo cấp trên, trả lời công dân về việc giải quyết vụ việc đó. Đặc biệt, phải chịu trách nhiệm tham mưu, chuẩn bị các điều kiện để lãnh đạo UBND cùng cấp TCD định kỳ, đột xuất hoặc tổ chức đối thoại các vụ việc phức tạp, đông người. Sau đó tổng hợp, tham mưu thông báo kết luận phiên tiếp, đối thoại và theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả việcthực hiện thông báo, kết luận phiên tiếp, đối thoại đó... Một số nơi, Ban TCD được Văn phòng UBND cùng cấp giao nhiệm vụ soát xét, tham mưu văn bản giải quyết khiếu nại (quyết định giải quyết khiếu nại), tố cáo (kết luận nội dung tố cáo) hoặc văn bản báo cáo cấp trên, trả lời công dân, phúc đáp cơ quan truyền thông về kết quả giải quyết vụ việc do cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp kiểm tra, tham mưu giải quyết, trả lời. Như vậy, yêu cầu và nhiệm vụ của Ban TCD khá nhiều, nặng nề nhưng cơ cấu tổ chức theo quy định lại không có các phòng chuyên môn trong ban để đảm nhận từng nhiệm vụ dẫn đến rất khó khăn trong quá trình thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị được giao.   

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật TCD và Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật TCD, quy định về việc Ban TCD cấp tỉnh do UBND cấp tỉnh thành lập, trực thuộc Văn phòng UBND cấp tỉnh. Ban TCD cấp tỉnh có trưởng ban, phó trưởng ban và công chức làm công tác TCD. Trưởng Ban TCD cấp tỉnh do một phó chánh Văn phòng UBND phụ trách, phó trưởng Ban TCD cấp tỉnh tương đương cấp trưởng phòng. Nhiều địa phương, đã bổ nhiệm phó trưởng ban, thành lập các phòng nghiệp vụ và bổ nhiệm các trưởng phòng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu về công tác TCD cũng như đảm bảo chức danh, phụ cấp của các trưởng phòng, phó trưởng phòng TCD thuộc Văn phòng UBND tỉnh (hoặc thuộc thanh tra tỉnh) khi Luật TCD chưa có hiệu lực. Một số địa phương, thực hiện đúng quy định của Luật TCD, chỉ bổ nhiệm trưởng ban và phó trưởng Ban TCD cấp tỉnh, do đó nhiều phó trưởng phòng TCD thuộc Văn phòng UBND tỉnh (hoặc thanh tra tỉnh) trước đây không còn chức danh, điều này chưa khích lệ công chức làm công tác TCD. Ban TCD cấp huyện có trưởng ban và công chức làm nhiệm vụ TCD. Trưởng Ban TCD cấp huyện do một phó chánh văn phòng HĐND và UBND phụ trách. Theo đó, Ban TCD cấp huyện chỉ có một trưởng ban mà không có phó trưởng ban nên trong thực tiễn công tác TCD cũng có những khó khăn nhất định, đặc biệt là trong trường hợp trưởng ban đi vắng.

Tại Khoản 3 Điều 12 Luật TCD quy định: Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh cử đại diện phối hợp cùng Ban TCD cấp tỉnh thực hiện việc TCD thường xuyên tại trụ sở TCD cấp tỉnh để tiếp nhận và xử lý các đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị thuộc phạm vi, trách nhiệm của ngành mình theo quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật TCD. Nhưng qua khảo sát, nắm bắt ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa triển khai đầy đủ, nghiêm túc quy định nêu trên.

Ở tỉnh Hà Tĩnh, UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 2584/QĐ-UBND ngày 3/7/2015 ban hành Quy chế làm việc và phối hợp công tác của Ban TCD tỉnh với các sở, ngành cấp tỉnh, trong đó, đã quy định nội dung trên nhưng đến nay vẫn không được triển khai do không có biên chế để bố trí. Và với việc không triển khai nghiêm túc, đầy đủ nội dung trên thì Ban TCD mỗi cấp trong thời gian qua phải gồng gánh, chịu trách nhiệm tiếp nhận xử lý cả những đơn thư thuộc thẩm quyền xử lý các cơ quan Đảng (Ủy ban Kiểm tra, Ban Nội chính, Văn phòng Tỉnh ủy) và các cơ quan dân cử ở địa phương (Đoàn Đại biểu Quốc hội, HĐND cấp tỉnh và cấp huyện) là trái luật.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) 

Thứ hai, về chế độ, chính sách của cán bộ làm công tác TCD:

Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Văn bản số 307-TB/TW ngày 10/02/2010 về Đề án Đổi mới công tác TCD, kết luận rõ “chế độ, chính sách còn bất cập, chưa kịp thời động viên sự sáng tạo, tâm huyết đối với cán bộ làm công tác TCD” và đã chỉ đạo “sớm kiện toàn về tổ chức, cán bộ và có chính sách chế độ đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ làm nhiệm vụ TCD”. Tại Điểm 3 Chương III Quyết định số 858/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đổi mới công tác tiếp dân, quy định“cán bộ TCD chuyên trách được hưởng phụ cấp nghề, phụ cấp thâm niên như cán bộ, thanh tra viên”, nhưng quá trình triển khai đã không làm đúng tinh thần chỉ đạo nêu trên.

Rất nhiều địa phương trước khi chuyển bộ phận TCD từ thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện sang Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện, cán bộ này đã được bổ nhiệm thanh tra viên đã được hưởng phụ cấp thanh tra viên, thâm niên thanh tra viên (được tính đóng bảo hiểm xã hội hưởng lương hưu sau này) nhưng sau khi sang Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện các chế độ này bị cắt, rất thiệt thòi, đã không động viên, khích lệ cán bộ làm công tác này. Chúng ta luôn đòi hỏi cán bộ làm công tác TCD, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải có phẩm chất, đạo đức, am hiểu sâu rộng các chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước và có đầy đủ kiến thức để trả lời, giải thích, thuyết phục cho nhân dân hiểu, đồng thuận và tự nguyện chấp hành nhưng với những chế độ, chính sách không những không được cải thiện mà còn đi xuống thì khó lòng thu hút cán bộ có chất lượng và nâng cao hiệu quả của công tác này.

Thứ ba, về một số khó khăn, vướng mắc khác trong quá trình thực hiện Luật TCD:

Điều 33 Luật TCD quy định: Nhà nước áp dụng công nghệ thông tin và các phương tiện kỹ thuật khác để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về TCD, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của công dân phục vụ công tác TCD. Tuy nhiên, hiện nay cơ sở dữ liệu quốc gia về nội dung này chưa được xây dựng nên một số vụ việc đã được địa phương thông báo chấm dứt giải quyết nhưng Trung ương vẫn chuyển đơn về địa phương để xem xét, giải quyết nên người dân lại tiếp tục kéo đến trụ sở TCD ở địa phương yêu cầu giải quyết.

Bên cạnh đó, Khoản 6 Điều 8 Luật TCD quy định: Cán bộ TCD có quyền yêu cầu người vi phạm nội quy nơi TCD chấm dứt hành vi vi phạm; trong trường hợp cần thiết lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chưa quy định cụ thể về xử lý các trường hợp người vi phạm nội quy TCD của một số người dân do trình độ kém hiểu biết hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để cố tình gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền.

Cũng theo Luật định, cán bộ TCD có quyền từ chối TCD trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài. Nhưng thực tế, rất nhiều trường hợp đã có thông báo chấm dứt giải quyết, nhưng đương sự vẫn liên tục đến khiếu nại, tố cáo gay gắt mà cán bộ TCD không thể từ chối việc tiếp. Đặc biệt, có nhiều trường hợp lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh để xúc phạm cán bộ lãnh đạo, cán bộ TCD, gây mất an ninh, trật tự nhưng Chính phủ chưa có Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TCD, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Thậm chí đã có những trường hợp gây thương tích cho cán bộ làm công tác TCD xảy ra trong thời gian vừa qua làm ảnh hưởng đến tâm lý cán bộ TCD, cũng như hiệu quả giải quyết công việc.

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập nêu trên, đồng thời làm tốt hơn công tác TCD trong thời gian tới, thiết nghĩ cần sửa Luật TCD theo hướng mô hình cơ quan TCD được tổ chức thống nhất từ Trung ương xuống địa phương. Nên thành lập Cục TCD trực thuộc Thanh tra Chính phủ (như mô hình Thi hành án thuộc Bộ Tư pháp). Cục TCD có chức năng kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm các cá nhân, tổ chức không thực hiện nghiêm túc việc giải quyết các vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo của cấp trên...  Nói tóm lại, cần quy định thống nhất mô hình tổ chức cơ quan TCD theo ngành dọc và có đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để tạo hành lang pháp lý làm chuyển biến căn bản tình hình công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Thanh tra Chính phủ cần sớm tham mưu, đề xuất Chính phủ phối hợp với các cơ quan Đảng ở Trung ương ký kết văn bản hướng dẫn thực hiện Điều 11, 12, 13 của Luật TCD quy định các cơ quan phối hợp TCD ở trụ sở TCD các cấp. Vì hiện nay việc phối hợp TCD thường xuyên giữa các cơ quan tại trụ sở TCD ở địa phương chưa được tổ chức, thực hiện đầy đủ, đồng bộ.

Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ cũng cần tham mưu, đề xuất Chính phủ quy định hướng dẫn về số lượng cán bộ làm công tác TCD ở mỗi cấp. Về chế độ, chính sách cần bám sát tinh thần chỉ đạo của các cơ quan Đảng và Nhà nước ở Trung ương để quy định rõ chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng nhằm thu hút cán bộ có trình độ năng lực và tạo động lực làm việc hăng say, gắn bó với nghề nghiệp của cán bộ làm công tác này.

Mặt khác, việc quy định mức bồi dưỡng cho cán bộ, công chức theo quy định tại Thông tư số 320/2016/TT-BTC ngày 14/12/2016 là chưa phù hợp, nhất là khi có sự biến động về tiền lương theo chiều hướng tăng lên dẫn tới giá cả thị trường thay đổi thì mức bồi dưỡng quy định như vậy là chưa sát thực tế. Do vậy, cần sửa đổi Thông tư 320 theo hướng căn cứ vào tiền lương cơ sở để tính mức chi bồi dưỡng (số tiền bồi dưỡng = Lương cơ sở x tỷ lệ % của từng mức được hưởng x số ngày công thực tế). Như vậy, khi có sự biến động về tiền lương sẽ không phải điều chỉnh Thông tư (vì trong thời gian chờ điều chỉnh Thông tư, người lao động sẽ bị thiệt thòi, tính hiệu quả của chính sách bị hạn chế).

Thanh tra Chính phủ phối hợp Bộ Công an tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực TCD, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh để tạo cơ sở pháp lý xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tâm lý an tâm công tác cho cán bộ làm công tác TCD, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Đồng thời, sớm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về TCD, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, cũng như xây dựng phần mềm xử lý, quản lý công tác TCD để thống nhất áp dụng trong toàn quốc nhằm hạn chế xử lý đơn thư trùng lắp, chuyển đơn thư lòng vòng như trong thời gian vừa qua. Có văn bản hướng dẫn về điều kiện, lý do cụ thể đối với các trường hợp người khiếu nại, kiến nghị, phản ánh được ủy quyền cho người khác, không phải là luật sư, trợ giúp viên pháp lý thực hiện việc khiếu nại, kiến nghị, phản ánh./.

Nguyễn Văn An

Phó Trưởng Ban Tiếp công dân tỉnh Hà Tĩnh