Từ năm 2014, Chính phủ, Thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về tổ chức bộ máy, quy trình, trình tự thủ tục theo dõi, đôn đốc, xử lý sau thanh tra. Cụ thể: Nghị định số 33/2015/NĐ-CP năm 2015 của Chính phủ về thực hiện kết luận thanh tra; Thông tư số 01/2013/TT-TTCP ngày 12/3/2013 của Thanh tra Chính phủ về hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra; Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014 của Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-TTCP-NHNN ngày 25/11/2015 của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn phong tỏa tài khoản của đối tượng thanh tra

Căn cứ theo những quy định pháp luật về việc xử lý và chỉ đạo việc thực hiện kết luận thanh tra, năm 2015 Thanh tra thành phố Hải Phòng thành lập Phòng Giám sát và Xử lý sau thanh tra (gọi tắt là Phòng nghiệp vụ 5) gồm 5 cán bộ Thanh tra viên.

Thanh tra các quận, huyện, sở, ngành của thành phố đều bố trí lãnh đạo và thanh tra viên làm nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, xử lý sau thanh tra theo hướng lãnh đạo thanh tra, thanh tra viên nào tham gia cuộc thanh tra thì thực hiện luôn việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra, xử lý sau thanh tra.

Trên thực tế, từ khi kết luận thanh tra có hiệu lực pháp luật, sau 15 ngày được chuyển về Phòng Giám sát và xử lý sau thanh tra để theo dõi, đôn đốc. Thanh tra thành phố và Thanh tra các quận, huyện, sở, ngành tham mưu để Chủ tịch UBND thành phố và thủ trưởng cùng cấp ban hành các văn bản chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai nghiêm túc kết luận, kiến nghị sau thanh tra; yêu cầu xử lý nghiêm các sai phạm về kinh tế, khắc phục các sơ hở trong công tác quản lý Nhà nước; xử lý kỷ luật đối với những tập thể, cá nhân có sai phạm; chỉ đạo chuyển hồ sơ đối với những vụ việc có dấu hiệu phạm tội sang cơ quan điều tra.

Văn bản chỉ đạo của UBND thành phố và thủ trưởng các sở, ngành, địa phương, đơn vị đều giao cơ quan Thanh tra theo dõi, đôn đốc, tổng hợp báo cáo và đều được các địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc (có quy định ngày báo cáo cụ thể). Những đơn vị thực hiện không đạt yêu cầu bị phê bình và yêu cầu phải làm lại.

leftcenterrightdel
 Thành phố Hải Phòng (ảnh internet)

Kết quả, từ năm 2016 đến nay, ngành Thanh tra thành phố Hải Phòng đã đôn đốc thực hiện 1.054 kết luận thanh tra. Trong đó, có 327 kết luận thanh tra hành chính; 727 kết luận thanh tra chuyên ngành; theo dõi đôn đốc xử lý sai phạm về kinh tế 101.760.748.000 đồng, kiến nghị thu hồi 63.466.766.000 đồng, kiến nghị xử lý bằng hình thức khác 38.294.002.000 đồng, kiến nghị lập lại trật tự quản lý 14.655,6 m2 đất; kiến nghị xem xét trách nhiệm 2 tập thể, 18 cá nhân; kiến nghị xem xét xử lý kỷ luật về đảng và chính quyền 6 cá nhân; kiến nghị, sửa đổi, bổ sung 03 văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của thành phố; chuyển 01 hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số kết luận thanh tra tỷ lệ thực hiện đạt thấp, thu hồi tiền không cao, thậm chí không thu hồi được tiền. Một số kiến nghị trong kết luận thanh tra kéo dài trong nhiều năm chưa thực hiện xong; cá biệt có kết luận thanh tra kéo dài từ năm 2011 đến nay nhưng vẫn chưa thực hiện xong.

Theo UBND thành phố Hải Phòng, nguyên nhân của tình trạng này là do một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị được thanh tra chưa thật sự quan tâm chỉ đạo thực hiện những kiến nghị trong các kết luận thanh tra, chỉ tập trung vào thực hiện việc thu hồi kinh tế mà chưa chú trọng chỉ đạo thực hiện các kiến nghị trong công tác quản lý, điều hành, kiểm điểm, xử lý cán bộ vi phạm; một số đối tượng thanh tra có biểu hiện trốn tránh, đối phó với kết luận thanh tra dẫn đến việc xử lý gặp khó khăn, nhất là xử lý về kinh tế.

Mặt khác, một số kết luận thanh tra kiến nghị biện pháp xử lý còn chung chung, chỉ kiểm điểm, rút kinh nghiệm nhưng không quy định thời hạn dẫn tới công tác đôn đốc, theo dõi xử lý bị động, khó theo dõi; một số cơ quan quản lý nhà nước chậm thực hiện kiến nghị trong kết luận thanh tra liên quan đến trách nhiệm của mình, có biểu hiện đùn đẩy, đối phó.

Ngoài ra, nhận thức của người đứng đầu một số địa phương, đơn vị đối với vai trò, vị trí, thẩm quyền của cơ quan thanh tra còn hạn chế, ít quan tâm hoặc chỉ bó hẹp quyền hạn của thanh tra quận, huyện; giao nhiều việc không liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra hoặc chỉ giao tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo; nhận thức của một số cá nhân, tổ chức về kết luận thanh tra còn chưa đúng, cho rằng Kết luận thanh tra chỉ là văn bản hành chính thông thường, chỉ có tính chất kiến nghị mà không có tính chất mệnh lệnh hành chính nên chấp hành, thực hiện không nghiêm túc.

Cùng với các nguyên nhân chủ quan là các nguyên nhân khách quan. Trong đó, pháp luật về thanh tra còn bất cập, chưa rõ ràng, dẫn tới việc thực hiện kết luận thanh tra; theo dõi, đôn đốc, xử lý sau thanh tra gặp nhiều khó khăn, cụ thể: Luật Thanh tra chưa giải thích rõ khái niệm đối tượng thanh tra là gì, do đó việc theo dõi, đôn đốc, xử lý sau thanh tra gặp khó khăn khi xác định đối tượng nào là đối tượng thanh tra, đối tượng nào là đối tượng kiểm tra xác minh, đối tượng nào là cá nhân, tổ chức có liên quan để áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-TTCP-NHNN ngày 25/11/2015 của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn phong tỏa tài khoản của đối tượng thanh tra chưa quy định rõ đối tượng kiểm tra, xác minh liên quan đến kết luận thanh tra có được áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản không; trình tự, thủ tục thực hiện như thế nào.

Đặc biệt, pháp luật về Thanh tra còn chưa quy định cụ thể về các biện pháp cưỡng chế trong xử lý sau thanh tra, chế tài xử lý trong việc không chấp hành thực hiện kết luận thanh tra.

Cơ chế vận hành nền hành chính của Việt Nam còn thiếu thống nhất, thể hiện tính độc lập tương đối của cơ quan thanh tra còn hạn chế, bị phụ thuộc nhiều vào Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung.

Từ thực tế trên, Thanh tra Thành phố Hải phòng rút ra một số kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả công tác thực hiện kết luận thanh tra, công tác đôn đốc, xử lý sau thanh tra như sau:

Thứ nhất, quá trình thực hiện kết luận thanh tra cần sự phối hợp, vào cuộc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp đối tượng thanh tra. Đây là chủ thể có tầm quan trọng rất lớn trong việc tác động, chỉ đạo việc thực hiện và chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra, xử lý hành vi vi phạm của đối tượng thanh tra. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp đối tượng thanh tra đều có trách nhiệm trong việc để xảy ra các hành vi vi phạm trong phạm vi, lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.

Thứ hai, quá trình thực hiện kết luận thanh tra phải có sự phối hợp của các cơ quan liên quan đến lĩnh vực hoạt động của đối tượng thanh tra để xử lý các đối tượng thanh tra có biểu hiện trốn tránh, chây ỳ không chịu thực hiện các kiến nghị trong kết luận thanh tra, nhất là quyết định xử lý thu hồi tiền. Ví dụ như phối hợp giữa cơ quan Thanh tra với các cơ quan Tài chính trong việc tạm dừng việc cấp vốn có nguồn gốc từ ngân sách cho đối tượng thanh tra thực hiện các công trình đầu tư xây dựng cơ bản; cơ quan Kế hoạch và Đầu tư trong việc không cho tham gia đấu thầu hoặc chỉ định thầu, không phê duyệt dự án đầu tư mới với đối tượng thanh tra chưa thực hiện đầy đủ các kiến nghị thanh tra; cơ quan truyền thông trong việc công khai danh tính đối tượng thanh tra chưa thực hiện, thực hiện không đầy đủ kết luận thanh tra.

Thứ ba, việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra cần được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, bằng nhiều hình thức, như: Gọi điện thoại, ban hành văn bản và làm việc trực tiếp với các đối tượng thanh tra để nắm bắt khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện kiến nghị; thông báo cho các cơ quan quản lý, cơ quan có liên quan đến đối tượng thanh tra khi đối tượng thanh tra trốn tránh, chây ỳ thực hiện kết luận thanh tra. Đồng thời, trong thời gian tiến hành thanh tra cần thực hiện các biện pháp phát hiện sai phạm đến đâu, làm rõ thấu đáo và quyết định xử lý thu hồi ngay tài sản Nhà nước bị thất thoát đến đó, không đợi đến khi có kết luận thanh tra mới xử lý. Gắn trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra cũng như vai trò lãnh đạo của người ra quyết định thanh tra với công tác xử lý sau thanh tra.

Theo đó, Thanh tra Thành phố Hải Phòng đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện kết luận thanh tra theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.

Một là, sửa Luật Thanh tra năm 2010 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành theo hướng tăng thẩm quyền, vị thế độc lập cho ngành Thanh tra; làm rõ các khái niệm: đối tượng thanh tra, kết luận thanh tra trong Luật Thanh tra; bổ sung các chế tài xử lý đối tượng thanh tra trong việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, trốn tránh, chây ỳ thực hiện kết luận thanh tra; sửa đổi Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-TTCP-NHNN ngày 25/11/2015 của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn phong tỏa tài khoản của đối tượng thanh tra theo hướng cần quy định rõ trình tự, thủ tục thực hiện, quy định rõ đối tượng áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản…

Hai là, Thanh tra Chính phủ xem xét xây dựng quy chế, thông tư phối hợp với các cơ quan khác ngoài Ngân hàng nhà nước Việt Nam như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông để mở rộng các hình thức xử lý đối tượng thanh tra trốn tránh, chây ỳ thực hiện kết luận thanh tra./.

PV