Thực hiện Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020, UBND tỉnh Lai Châu đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững năm 2018. Theo thống kê, đến hết tháng 6/2018, nguồn vốn toàn tỉnh đã phân bổ cho chương trình là hơn 292,1 tỷ đồng để thực hiện các chính sách, dự án hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn. Trong đó, vốn cho chương trình 30a là hơn 176,8 tỷ; vốn cho chương trình 135 là 113,6 tỷ; vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài chương trình 30a và 135 là 261 triệu đồng; vốn truyền thông và giảm nghèo về thông tin 709 triệu đồng; nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện chương trình 652 triệu đồng.

leftcenterrightdel

Huyện Tân Uyên đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững 

Nhờ xác định đúng tiềm năng, lợi thế để dồn sức thực hiện nên đến nay công tác giảm nghèo của tỉnh Lai Châu tiếp tục được quan tâm, đầu tư thích đáng và đạt kết quả quan trọng. Ước trung bình giai đoạn 2016 - 2018, tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,95%/năm, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 30,10%; hộ cận nghèo còn 11,84%. Hai huyện Than Uyên và Tân Uyên được công nhận ra khỏi huyện nghèo; 13/75 xã ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn. Kết quả trên không chỉ góp phần tạo ra thế và lực mới cho giai đoạn tiếp theo của Lai Châu mà còn là minh chứng của một chủ trương kiên trì đúng đắn, đó là tăng trưởng kinh tế cao, gắn với giảm nghèo bền vững.

Thực tế cho thấy, Lai Châu đã và đang có những bước phát triển vượt bậc. Diện mạo nông thôn từ vùng thấp đến vùng cao có nhiều đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là đời sống của bà con vùng cao, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với những thay đổi về cơ sở vật chất thì nhận thức về giảm nghèo của đồng bào được nâng lên, đồng thời lại có các cơ chế chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, nên bà con đã tích cực tham gia lao động, sản xuất để xóa đói, giảm nghèo và từng bước vươn lên làm giàu chính đáng. Cây trồng, vật nuôi nào có giá trị kinh tế cao, mô hình sản xuất nào có hiệu quả là đồng bào nắm bắt chuyển đổi ngay. Tích cực học tập, áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ đó đã bước đầu hình thành được những vùng sản xuất có giá trị kinh tế cao. Nhiều hộ có cách làm hay, hiệu quả vươn lên thoát nghèo và phấn đấu làm giàu. Điển hình như gia đình anh Lý Thùy Dương (xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ) thoát nghèo nhờ trồng chuối, thu nhập mỗi năm 50 – 60 triệu đồng. Hay như trường hợp ông Trần Đức Hưởng (thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên) đã xây dựng một xưởng sản xuất chè mi ni để tiêu thụ sản phẩm cho người dân trên địa bàn huyện. Đến nay, xưởng chế biến chè xanh - đen của ông có tổng số vốn đầu tư trên 6,5 tỷ đồng với công suất 10 tấn chè búp tươi/ngày, doanh thu mỗi năm hơn 7,5 tỷ đồng.

leftcenterrightdel
 Tổ chức sản xuất chè theo chuỗi đồng bộ nâng cao giá trị, tạo lợi thế lớn

Kết quả đó là do công tác xóa đói, giảm nghèo luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở, coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm, từ đó quyết tâm thực hiện. Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã vận dụng sáng tạo nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương, thực hiện đồng bộ các giải pháp về xoá đói, giảm nghèo thông qua việc xác định đúng những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, những tiềm năng, thế mạnh, những khâu đột phá và có bước đi phù hợp.

Với quyết tâm phấn đấu giữ vững tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo; giảm tỷ lệ hộ nghèo phát sinh, củng cố kết quả giảm nghèo bền vững toàn diện hơn, hàng loạt các giải pháp đã được đề ra và đang từng bước triển khai thực hiện với nhiều dự án và chính sách thành phần. Đó là các nhóm chính sách giảm nghèo chung và các nhóm giảm nghèo đặc thù. Nhóm chính sách chung bao gồm: chính sách hỗ trợ về y tế, gồm: hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người có mức sống trung bình, người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ về khám chữa bệnh.

Chính sách hỗ trợ về giáo dục – đào tạo: hỗ trợ miễn, giảm học phí cho học sinh, sinh viên; hỗ trợ học bổng; hỗ trợ chi phí học tập; hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số bán trú tiền ăn trưa; hỗ trợ học sinh thuộc dân tộc ít người; hỗ trợ lương thực cho học sinh tại các trường bán trú.

Chính sách hỗ trợ nhà ở: hỗ trợ cho các hộ nghèo vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để xây dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở.

Chính sách hỗ trợ tiền điện: hỗ trợ tiền điện cho các hộ nghèo, hộ chính sách xã hội về tiền điện sinh hoạt.

Chính sách hỗ trợ khuyến nông, khuyến lâm cho hộ nghèo: hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, máy móc trang thiết bị phục vụ sản xuất,...

Chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi (vay vốn tại ngân hàng Chính sách xã hội): cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, vay vốn học sinh sinh viên, vay vốn sản xuất, vay vốn làm nhà, vay vốn chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường,...

Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với giải quyết việc làm.

Nhóm chính sách giảm nghèo đặc thù (Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững) bao gồm: Chương trình 30a; Chương trình 135; Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135; Truyền thông và giảm nghèo về thông tin; Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình.

Phát huy các tiềm năng, lợi thế, tranh thủ và tận dụng tốt các nguồn lực, tạo sự đồng thuận cao trong việc triển khai thực hiện đồng bộ các chương trình, đề án trọng tâm, tin tưởng công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Lai Châu tiếp tục thu được nhiều kết quả, góp phần xây dựng tỉnh Lai Châu ngày càng đổi mới và phát triển, nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc./.

                                                                                      Duy Phường