Châu Khê hôm nay

Cách thị trấn chừng hơn năm cây số, chúng tôi men theo con sông Cửu An để về UBND xã Thúc Kháng. Tiếp chúng tôi là anh Cường – Chủ tịch UBND xã. Tuy lần đầu gặp anh, nhưng tất cả chúng tôi đều có cảm giác thân quen đến kỳ lạ. Anh thân thiện, cởi mở và bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về làng nghề vàng bạc Châu Khê với “sự tích” của nó và thành công của bà con nơi đây. Anh chia sẻ, làng cổ Châu Khê có từ thời nhà Lý (1009-1226) lúc đầu có tên là Chu Xá Trang. Chu Xá Trang là một làng quê dân cư thưa thớt, chủ yếu sống dựa vào canh tác nông nghiệp. Thời Lê, Nguyễn là một xã của Tổng Tông Chanh, huyện Đường An, nay là một trong 7 làng thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Nghề thủ công vàng bạc Châu Khê được xuất phát từ nghề đúc bạc nén dưới triều Lê Sơ. Thời đó, Lại bộ thương thư Lưu Xuân Tín một con của làng được nhà vua giao cho nhiệm vụ chỉ đạo việc đúc bạc nén lưu hành tiền tệ trong nước. Ông mới tập hợp những người thợ của làng lên kinh đô (phố Hàng Bạc bây giờ) lập xưởng chế tạo vàng nén phục vụ cho đúc tiền của cả nước và đồ dùng trong cung vua. Từ đó, nghề vàng bạc Châu Khê và phố Hàng Bạc cùng hình thành và phát triển. Thời bấy giờ không có những máy móc kỹ thuật hiện đại như ngày nay, nhưng những trang sức vàng hay bạc đều đạt đến độ tinh xảo và hoàn mỹ nhất định, khó có máy móc nào có thể vượt qua được. Có thể kể đến một số sản phẩm nổi tiếng của các nghệ nhân trong làng như: cành vàng, trâm ngọc, chén ngọc, được tiến vào trong hoàng cung cho các bậc đế vương dùng.

 Trải qua hơn 500 năm lịch sử với bao khó khan, thăng trầm. Có những lúc tưởng như làng mất nghề truyền thống do ông cha để lại nhưng với lòng quyết tâm và tình yêu mà người dân làng Châu Khê vẫn giữ vững nghề, cha truyền con nối, thế hệ trước truyền cho thế hệ sau.

Anh nói, các chú có muốn mục sở thị làng nghề không? Chúng tôi đồng ý ngay và cùng anh lên đường. Vừa đi anh lại vừa cười, nói: “Làng này yên bình lắm, các chú không thấy người ra đường đâu”. Quả thật, đi cả quãng đường dài, chúng tôi thấy rất ít xe cộ qua lại, người đi đường thưa thớt. Anh bảo: “Người dân đi làm hết rồi. Ai ở quê thì giờ này đang ở trong xưởng (chế tác bạc – PV), còn lại thì đang ở phố Hàng Bạc buôn bán”.


Một trong những giai đoạn chế tác bạc thủ công được người thợ thực hiện

Anh đưa chúng tôi vào thăm xưởng của bác Lê Huy Khương, 74 tuổi, người có kinh nghiệm hơn 20 năm làm nghề chế tác bạc. Bác chia sẻ, các sản phẩm bạc hiện nay vẫn được chế tác theo lối truyền thống từ thời cha ông. Ngày xưa, các cụ thường đạp bằng bễ chân, toàn bộ gia công bằng tay nên 1 – 2 ngày mới được sản phẩm. Thời gian sau, khi áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, nhân dân có máy cán, máy hơi, nấu bằng ga, lò cao tầng cho năng suất cao, chất lượng đẹp. Ở làng Châu Khê, nghề chế tác trang sức được truyền từ đời này sang đời khác. Những người thợ trong làng được tiếp xúc với quy trình chế tác trang sức từ nhỏ, chính vì vậy, dù ở độ tuổi rất trẻ họ đã tự mình lĩnh hội được những kĩ thuật khó trong nghề; và cũng nhờ đó, Châu Khê không chỉ giữ vững được truyền thống mà còn luôn tạo ra được những sản phẩm độc đáo.

Rời nhà bác, chúng tôi sang nhà anh Tuấn. Sinh ra và lớn lên tại làng chạm khắc bạc, anh sống trong những tiếng đục đẽo, hàn xì từ khi còn là một cậu bé. Trong quá trình làm nghề, anh luôn khao khát sẽ làm ra những sản phẩm mới độc đáo, mang dấu ấn, phong cách riêng của chính mình. Với kinh nghiệm nhiều năm, cùng sự học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, anh trở thành một thợ bậc thầy trong việc sáng tạo ra những mẫu mã mới. Theo anh, hiện nay có rất nhiều nơi chế tác bạc, không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Sự cạnh tranh khốc liệt đó khiến anh luôn trăn trở để sáng tạo ra những mẫu mã đẹp, ấn tượng.


Sản phẩm bạc của làng Châu Khê được trưng bày tại các gian hàng

Trên đường đi, anh Cường vẫn kể cho chúng tôi nghe về lịch sử cũng như những thành công của bà con nơi đây đã đạt được. Đối với thợ Châu Khê, dù sản xuất - chế tác, mở cửa hiệu làm khuôn mẫu ở kinh thành hay tại quê, họ đều có ý thức tích lũy phát huy kinh nghiệm ông cha và nỗ lực sáng tạo vươn lên tới đỉnh cao của nghề nghiệp, đạt đến độ tinh xảo trong từng chi tiết. Người làng luôn nghiêm khắc với bản thân, giữ đức tính “Trung thực, nhạy cảm, tinh tế, cẩn thận, gọn gàng, kiên trì, tài ba và lịch thiệp”. Nghề kim hoàn của Châu Khê qua nhiều thế kỷ, có lúc thăng lúc trầm nhưng ngày càng phát triển. Đặc biệt, trong khoảng gần 100 năm trở lại đây, làng nghề Châu Khê đã đạt tới đỉnh cao về kỹ thuật sản xuất, chất lượng và số lượng sản phẩm vàng bạc trong cả nước. Không chỉ người làng gốc, ngay cả người Châu Khê ở phố Hàng Bạc (Hà Nội) vẫn rất gắn bó, hỗ trợ nhau cả trong làm nghề, buôn bán, đến sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng. Tuy sống ở phố nhưng họ vẫn giữ tình “làng bản”, cứ đến ngày 19 tháng Giêng âm lịch hàng năm, họ lại nô nức về dự hội làng, làm lễ dâng hương báo công với Đức Thành Hoàng và giỗ Tổ nghề kim hoàn. 

Chia tay anh, chúng tôi trở lại với phố thị sầm uất với những phố Hàng Bạc, Phúc Tân,… Sự trung thực, chân chất vốn có ở làng quê Châu Khê chính là cái đức của làng, luôn luôn khắc ghi trong trái tim họ, trở thành nguyên tắc sống còn của người làm nghề. Cho dù bao đời đã trải qua hàng trăm năm trong mỗi gia đình, nhưng ai ai cũng nhớ tới lời ông cha nhắn nhủ cho con cháu: “Sầm uất Đông Đô một phố nghề. Rộn ràng Hà Nội phố và quê. Châu Khê truyền thống bảo tồn nghiệp. Hàng Bạc tiềm năng giữ lấy nghề”.

Đình Luyện