Theo chủ nhiệm đề tài, giá trị pháp lý của kết quả đối thoại trong giải quyết khiếu nại là một vấn đề hết sức quan trọng. Theo đó, từ chỗ chỉ quy định việc gặp gỡ đối thoại trong các điều luật chung về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, pháp luật hiện hành đã có những quy định riêng về mục đích, thành phần, nội dung đối thoại, cách thức lập biên bản đối thoại đồng thời cũng quy định giá trị pháp lý của kết quả đề tài. Quy định về đối thoại hiện nay không chỉ được áp dụng đối với các vụ việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà còn được áp dụng trong giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Bên cạnh những ưu điểm, quy định về đối thoại trong giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Theo đó, các thành phần tham gia đối thoại chưa thực sự bao quát được tình hình thực tế, chưa có quy định cụ thể về ủy quyền khiếu nại; các quy định về trách nhiệm các chủ thể có liên quan tham gia đối thoại chưa cụ thể; một số quy định về trình tự, thủ tục, nội dung đối thoại chưa hợp lý; các quy định về việc tổ chức đối thoại khá cứng nhắc, bị giới hạn về số lượng, quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại chưa phù hợp với thực tế; giá trị pháp lý của kết quả đối thoại chưa tương xứng với ý nghĩa và tầm quan trọng của đối thoại trong giải quyết khiếu nại; chưa có chế tài quy định việc xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật. 

 Toàn cảnh buổi nghiệm thu. Ảnh: L.A

Đánh giá về kết quả nghiên cứu của đề tài, ThS. Nguyễn Ánh Tuyết, Phó Trưởng ban Tiếp công dân Trung ương, TTCP, ủy viên phản biện Hội đồng nghiệm thu cho rằng đề tài có cách tiếp cận phù hợp, kết hợp tốt các phương pháp nghiên cứu để làm rõ các mục tiêu. Đề tài đã có so sánh đối chiếu giữa các văn bản pháp luật các thời kỳ để có đánh giá thực trạng đối thoại trong giải quyết khiếu nại hiện nay. Các giải pháp có tính đồng bộ, khả thi. Các giải pháp thực hiện có tính thực tiễn. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tiếp cận đối thoại trong hoạt động tiếp công dân mà chưa đề cập tới đối thoại trong giải quyết khiếu nại. Ngoài ra, đề tài nên tiến hành khảo sát thực tiễn để cung cấp các số liệu thống kê về việc tổ chức đối thoại trong thực tiễn hiện nay thì sẽ thuyết phục hơn.

Về ý kiến của TS. Trần Văn Long, Trưởng phòng Nghiên cứu Viện CL&KHTT, ủy viên phản biện Hội đồng nghiệm thu cho rằng, cách tiếp cận của đề tài có tính mạch lạc, đề tài đã làm sáng rõ được nhiều vấn đề. Đề tài có được những giá trị riêng. Tuy nhiên, đề tài cần tiếp cận đối thoại ở hai dạng đó là đối thoại bắt buộc (tiếp cận ở phạm vi hẹp) và đối thoại được coi là một phương thức trao đổi làm rõ thông tin trong suốt quá trình giải quyết khiếu nại (phạm vi rộng). Phần những yếu tố tác động, cần bổ sung về năng lực trình độ, kỹ năng của người đối thoại và cơ sở pháp lý của đối thoại trong giải quyết khiếu nại.

Trong phần thực trạng, đề tài mới chỉ tiếp cận đối thoại trong tiếp công dân mà chưa có bóng dáng đối thoại trong giải quyết khiếu nại, vì vậy đề tài cần bổ sung một vài vụ việc đối thoại điển hình để minh chứng và làm sâu sắc hơn mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Về tầm quan trọng của người tổ chức đối thoại chưa được đề cập trong đề tài.

Theo ThS. Phạm Thị Thu Hiền, Phó Viện trưởng Viện CL&KHTT, phần lý luận của đề tài cần bổ sung thêm khái niệm về giải quyết khiếu nại sẽ đầy đủ hơn.

ThS. Lê Đức Trung, Trưởng phòng Thông tin, Viện CL&KHTT, chương II của đề tài cần đi sát vào đối thoại chứ hơn là phân tích vào nội dung đối thoại trong công tác tiếp dân. Đề tài cần bổ sung phần nguyên nhân để từ đó mới dẫn dắt đến phần giải pháp. Các giải pháp tại chương III, cần chú trọng vào việc nâng cao việc thực hiện đối thoại trong giải quyết khiếu nại.

Với những đánh giá, nhận xét của Hội đồng nghiệm thu và các đại biểu tham dự, TS. Nguyễn Tuấn Khanh, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho ý kiến và đưa ra kết luận về kết quả nghiên cứu của đề tài. Theo đó,về phần nội dung cần bổ sung khái niệm giải quyết khiếu nại trước khi đi vào những vấn đề khác. Bên cạnh đó, đối thoại trong giải quyết khiếu nại cần được hiểu là làm rõ được các vấn đề giúp các bên giải quyết được vấn đề được đối thoại hơn cách hiểu đối thoại nhằm chấm dứt vụ việc.

Không chỉ vậy, đề tài cần có sự phân biệt giữa đối thoại trong tiếp dân và đối thoại trong giải quyết khiếu nại. Phần giải pháp, nên gộp giải pháp 3.2 (hoàn thiện pháp luật) và giải pháp 3.3. (giải pháp về tổ chức thực hiện). Đặc biệt, trước khi đi sâu vào phân tích các nội dung chính của đề tài, cần có sự luận giải nhằm có cách hiểu thống nhất về vấn đề đối thoại trong giải quyết khiếu nại.

Với kết quả nghiên cứu được trình bày tại buổi nghiệm thu, đề tài được Hội đồng thống nhất thông qua và nghiệm thu và được xếp loại xuất sắc.

Lan Anh