Hiệu quả trong đấu giá quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh chưa cao

Cụ thể, từ năm 2012 đến 2017, theo thẩm quyền, UBND tỉnh Quảng Bình đã ban hành một số văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực đất đai, môi trường, khoáng sản và đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, vẫn còn văn bản được ban hành có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như Văn bản số 579/VPUBND-TNMT ngày 03/4/2014 của UBND tỉnh về việc cấp giấy phép khai thác cát làm vật liệu xây dựng (tạm thời) là không phù hợp với quy định Khoản 2, Điều 53 và Điều 59 Luật Khoáng sản năm 2010 (Luật Khoáng sản năm 2010 không quy định hình thức giấy phép khai thác khoáng sản tạm thời), cần phải được UBND tỉnh Quảng Bình rà soát, xử lý, đảm bảo việc cấp giấy phép theo đúng quy định của pháp luật.

Về công tác quản lý nhà nước và thực hiện quy định pháp luật trong hoạt động khoáng sản, bảo vệ môi trường, đoàn thanh tra phát hiện một số tồn tại, hạn chế như: Các khu công nghiệp, khu kinh tế trong tỉnh (trừ KCN Cảng biển Hòn La) chưa được đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải công nghiệp tập trung; công tác quan trắc, giám sát tập trung đang gặp khó khăn; công tác quản lý chất thải nguy hại, việc rà soát các cơ sở nhỏ lẻ có phát sinh chất thải nguy hại chưa được thực hiện đầy đủ quy định; hạ tầng xử lý chất thải nguy hại của tỉnh chưa được đầu tư; việc quản lý, thực hiện thủ tục xác nhận hoàn thành đối với các công trình biện pháp bảo vệ môi trường trước khi đưa vào sử dụng còn chậm, chưa đầy đủ...; công tác quản lý chất thải rắn tại một số địa phương trong tỉnh còn bất cập, năng lực thu gom, xử lý rác thải chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, còn thụ động trong việc tìm nguồn kinh phí đầu tư, tỷ lệ thu gom xử lý rác thải tại một số huyện còn thấp.

Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng truyền nhận số liệu quan trắc môi trường tự động liên tục chưa được đầu tư, hạn chế trong việc kiểm soát nguồn thải (nước thải và khí thải) tại các cơ sở có khối lượng phát sinh lớn; nguồn nhân lực phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; việc lập dự toán, xây dựng mục chi, điều hành phân bổ, kiểm tra, ngân sách sự nghiệp môi trường giữa các ngành, giữa các địa phương trong tỉnh còn mang tính bình quân, dàn trải chưa xác định rõ mục tiêu, lộ trình chủ yếu để tập trung giải quyết các vấn đề trọng điểm.

Thông báo kết luận thanh tra nêu rõ, UBND huyện Bố Trạch, UBND huyện Quảng Trạch chưa tuân thủ chặt chẽ quy định trong việc chấp nhận đăng ký Bản cam kết bảo vệ môi trường. UBND thành phố Đồng Hới thiếu chỉ đạo, giám sát để các cụm công nghiệp, cụm tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố đi vào hoạt động khi chưa có đủ điều kiện, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường theo quy định. Mặt khác, phần lớn các khu vực khoáng sản đưa ra đấu giá đều vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, hiệu quả trong đấu giá quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh chưa cao. Một số cán bộ, công chức thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường được giao nhiệm vụ kiểm tra thực địa, lập Biên bản kiểm tra thực địa và lập Biên bản bàn giao mỏ khai thác cát san lấp tại thôn Thanh Bình, xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch cho Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Trung Dương không chính xác; việc điều chỉnh diện tích, toạ độ tài nguyên mỏ mà không yêu cầu đơn vị điều chỉnh về nội dung cam kết bảo vệ môi trường, thiết kế khai thác mỏ, báo cáo kinh tế - kỳ thuật... là chưa phù hợp quy định của pháp luật. Một số quyết định cho thuê đất, ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp cấp giấy phép tạm thời khai thác khoáng sản sau khi đã hoàn thành việc khai thác, là cũng chưa phù hợp với quy định thuê đất trong hoạt động khoáng sản.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa - Internet 

17 dự án chậm tiến độ

Thông báo kết luận của Thanh tra Chính phủ đưa ra con số đáng chú ý. Theo đó, Quảng Bình nợ thuế tài nguyên, cấp quyền khai thác khoáng sản và phí bảo vệ môi trường với số tiền lớn: 75.245.204.372 đồng. Trách nhiệm trước hết thuộc về các tổ chức, cá nhân nợ thuế tài nguyên, cấp quyền khai thác khoáng sản và phí bảo vệ môi trường, Cục Thuế tỉnh và các đơn vị có liên quan.

Liên quan tới công tác quản lý nhà nước, thực hiện quy định pháp luật về đất đai, việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối năm 2016 - 2020 của tỉnh Quảng Bình còn chậm; một số chỉ tiêu trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất khi thực hiện đạt tỷ lệ thấp; việc giao đất, cho thuê đất đối với 02 dự án có sử dụng đất rừng trồng phòng hộ, đất rừng trồng sản xuất, nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng theo quy định; chưa xử lý dứt điểm các tồn tại đối với 35 hộ kinh doanh (gồm 29 hộ tại Bãi tắm Nhật Lệ 1 và Nhật Lệ 2; 06 hộ tại xã Quảng Phú) theo Kết luận thanh tra số 3227/KLTT-TTCP ngày 25/12/2009 của Thanh tra Chính phủ và Văn bản số 552/VP-UBND ngày 20/9/2011 của UBND tỉnh Quảng Bình.

Đoàn thanh tra còn phát hiện, có 13 dự án được giao đất, cho thuê đất chậm tiến độ đầu tư, hoặc ngừng, tạm ngừng hoạt động, chưa được xử lý kịp thời. Đáng nói nữa, tiền sử dụng đất còn nợ đến 30/6/2017 là 54.693.301.769 đồng (riêng trên địa bàn thành phố Đồng Hới có số nợ là 44.531.472.915 đồng).

Trong giai đoạn 2012 - 2017, công tác quản lý nhà nước, thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng của tỉnh Quảng Bình còn chậm bố trí vốn cho các dự án quy hoạch, cho phép điều chỉnh quy hoạch chưa chặt chẽ theo quy định; việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 chưa phù hợp với quy hoạch 1/2000 đã được phê duyệt; cấp phép xây dựng 03 công trình chưa đúng về mật độ xây dựng.

Kiểm tra việc triển khai thực hiện dự án đầu tư ngoài ngân sách phát hiện: Đến thời điểm thanh tra, còn có 46 dự án triển khai chậm tiến độ, trong đó 41 dự án vốn đầu tư trong nước và 5 dự án vốn FDI. Sau khi được thanh tra, UBND tỉnh đã chỉ đạo rà soát xử lý, kết quả: Đã có 14 dự án đã đi vào hoạt động; 10 dự án đã được tỉnh đồng ý cho phép giãn tiến độ; 05 dự án, nhà đầu tư đề xuất dừng, tìm vị trí mới do không thể GPMB hoặc không triển khai (trong đó có 03 dự án FDI đã thu hồi Giấy CNĐKĐT). Như vậy, còn 17 dự án chậm tiến độ.

Trong khi đó, việc quản lý vốn ứng, một số chủ đầu tư quản lý vốn tạm ứng chưa chặt chẽ, vốn dư ứng kéo dài, chậm thu hồi vốn tạm ứng, để nhà thầu chiếm dụng, sử dụng vốn đầu tư chưa hiệu quả. Đến ngày 30/6/2017, số tiền tạm ứng đối với các dự án là 33.363 triệu đồng, cần phải được UBND tỉnh Quảng Bình chỉ đạo, tập trung xử lý, thu hồi theo quy định, tránh gây thất thoát vốn ngân sách. Trách nhiệm thuộc về các Chủ đầu tư và các đơn vị liên quan.

Khi kiểm tra một số dự án đầu tư xây dựng nhận thấy trong quá trình triển khai lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế, dự toán và quản lý hợp đồng xây dựng chưa chặt chẽ, phải điều chỉnh thay đổi nhiều trong quá trình thực hiện, kéo dài thời gian thi công; chưa áp dụng đúng định mức, tiêu chuẩn theo quy định; nghiệm thu khối lượng không đúng thực tế. Qua thanh tra phát hiện sai phạm, số tiền là 1.402.358.543 đồng, phải được UBND tỉnh chỉ đạo chấn chỉnh, xử lý thu hồi, giảm trừ khi nghiệm thu, thanh quyết toán.

Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình chỉ đạo các sở, ngành, cơ quan, đơn vị, UBND huyện, thành phố chấn chỉnh, khắc phục, xử lý đối với các sai phạm, khuyết điểm đã nêu trên. Trong đó, tập trung, tăng cường công tác quản lý chất thải rắn, kiểm soát nguồn nước thải và khí thải; chỉ đạo Chủ tịch UBND thành phố Đồng Hới kiểm tra, rà soát xử lý, giải quyết dứt điếm các tồn tại đối 35 hộ kinh doanh trên đường Trương Pháp, phường Hải Thành và xã Quang Phú

Đồng thời, có giải pháp xử lý, khắc phục 42 dự án công trình cấp nước tập trung nông thôn đã được đầu tư nhưng chưa phát huy hiệu quả và một số dự án triến khai dở dang nhưng do không được tiếp tục bố trí vốn dừng thi công, chưa phát huy được hiệu quả đầu tư. Đặc biệt, chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, rà soát, xử lý thu nộp ngân sách nhà nước đối với khoản nợ thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trường của các đơn vị, cá nhân số tiền là 75.245.204.372 đồng, nợ tiền thuê đất là 54.693.301.769 đồng; thu hồi vốn dư ứng là 33.363.000.000 đồng; thu hồi, giảm trừ tiền sai phạm của các dự án đầu tư xây dựng là 1.402.358.543 đồng đảm bảo theo đúng quy định./.

Lan Anh

.