Trình bày dẫn đề hội thảo, đại diện Ban chủ  nhiệm (BCN), ông Nguyễn Quốc Hoàng cho biết, trong thời gian qua, thực hiện Nghị quyết số 112/2015/NQ-QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về tăng cường việc quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh do các Công ty Nông nghiệp, Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng cho thấy trên địa bàn 5 tỉnh Tây nguyên gồm: Đắk Nông, ĐắkLắk, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng có những đặc thù riêng, là những khu vực đất đai rất rộng lớn, địa hình đồi núi, cao nguyên Tây nguyên có nhiều khu vực là vùng sâu, vùng xa việc đi lại khó khăn cách trở, cộng với điều kiện tự nhiên, thời tiết có nhiều biến động thất thường, khi hạn hán kéo dài, khi mưa lũ bất thường tạo ra thách thức lớn cho công tác quản lý Nhà nước nói chung và quản lý rừng, đất rừng và đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh nói riêng.

Bên cạnh đó, tốc độ tăng dân số cơ học những năm gần đây tại địa bàn khu vực rất nhanh và cao, hiện tượng di dân tự do ở các tỉnh khác đến Tây Nguyên với số lượng ngày càng tăng, kéo theo nhiều áp lực và vấn đề phức tạp về Kinh tế - Xã hội cho địa bàn, ảnh hướng rất lớn đến an ninh trật tự trên địa bàn, đặc biệt phải kể đến là tình trạng xâm lấn chặt phá rừng; tranh chấp lấn chiếm đất rừng; mua bán trái phép đất đai có nguồn gốc đất rừng và đất do các nông, lâm trường quản lý để có đất ở và đất sản xuất.

leftcenterrightdel

“Tình trạng rừng, đất rừng và đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh (nay do các Công ty Nông nghiệp, Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng) quản lý bị lấn chiếm, tranh chấp diễn ra rất phổ biến và đã kèo dài nhiều năm qua, song chậm được xử lý và không dứt điểm dẫn đến những tồn đọng kéo dài và tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát những vụ việc tranh chấp, khiếu kiện đông người phức tạp khó lường”, ông Hoàng nhấn mạnh.

Đặc biệt, khó khăn nhất là chưa có cơ chế, chích sách thích hợp để khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện cho do các Công ty Nông nghiệp, Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng quản lý và khai thác có hiệu quả diện tích rừng và đất rừng rất lớn được giao. Bên cạnh đó cũng chưa có cơ chế, chích sách hợp lý để người dân cũng như các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển rừng, sản xuất nông, lâm sản tạo nền kinh tế bền vững gắn với kinh tế phát triển rừng. Do vậy, thực trạng là diện tích rừng và tài nguyên rừng hiện nay đang bị xâm hại nghiêm trọng song chưa thể ngăn chặn. Từ những điều trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng KN, tranh chấp đất rừng, đất đai nông lâm trường ở Tây Nguyên, việc giải quyết và một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết ” là rất cần thiết.

Góp ý tại Hội thảo, ông Cung Phi Hùng, Phó Viện trưởng Viện CL&KHTT chia sẻ, đây là Hội thảo cuối cùng để nghiệm thu, vì thế BCN cần hoàn chỉnh cấu trúc của đề tài cho hoàn chỉnh. Có thể nói, đây là đề tài mang tính ứng dụng cao, BCN cần giải quyết hai mục tiêu: Hoàn thiện pháp luật về KN, tranh chấp đất rừng, đất đai nông lâm trường và giải pháp giải quyết dứt điểm những vụ việc này. “Giải quyết được hai nội dung trên hoàn chỉnh, sau khi được nghiệm thu, có thể trình Tổng thanh tra Chính phủ xem xét, đưa thành Thông tư để áp dụng vào thực tế”, ông Cung Phi Hùng nhấn mạnh.

Theo Phó Viện trưởng Viện CL&KHTT Nguyễn Thị Thu Hiền, khi tiếp cận đề tài thấy tính thực tiễn rất cao, số liệu, phân tích, nhận định rất sát, không mang tính lý luận nhiều. Hoạt động nghiên cứu không phải lúc nào cũng triển khai được đề tài hay như thế này. Tuy nhiên, phần mở đầu của đề tài, BCN cần sửa để có các phần nhỏ như: tính cấp thiết của đề tài; mục tiêu của đề tài; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu chính của đề tài.

Đồng quan điểm với ông Hùng, bà Hiền cho rằng, đề tài mới nêu được một khái niệm về tranh chấp đất đai, BCN cần bổ sung các khái niệm khác có liên quan mà đề tài cần giải quyết. Đề tài đã tìm ra các vụ việc KN phức tạp, điển hình. Tuy nhiên, phần Kiến nghị nói khá nhiều về chính sách, pháp luật, nhưng Chương 2 lại không đánh giá thực trạng của pháp luật và khía cạnh thực hiện luật. Ở Chương 3, BCN cần đặt tên khác để bao quát hơn thay vì tên "Những ý kiến tổng kết, kiến nghị hoàn thiện chính sách quản lý và giải quyết tranh chấp đất đai nông lâm trường ở Tây Nguyên" như hiện nay.

Do có nhiều ý kiến trùng lắp với hai đại biểu nêu trên, ông Lê Văn Đức, Viện CL&KHTT đưa một góp ý nhỏ trong Chương 2. Ở dưới các vụ việc cụ thể mà BCN đưa ra, cần phân tích, bình luận, khái quát lên thành vấn đề khoa học. Đồng thời, BCN cần bổ sung mục lục cho đề tài để các đại biểu có thể tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn.

Đưa thêm nhận xét, bà Lê Thị Thúy, Viện CL&KHTT nhận định, đề tài có nội dung thực tiễn sâu về chuyên môn. Tuy nhiên, để các vấn đề sắp xếp khoa học hơn, tại Chương 1 cần bật lên được đặc điểm vùng miền, sinh hoạt dân cư cụ thể tại Tây Nguyên. Sau đó quay lại phân tích các quy định chung của pháp luật thì có áp dụng được vào địa bàn này hay không? Có những thuận lợi, bất cập gì? Bên cạnh đó, ở Chương 3, các đề xuất, giải pháp, kiến nghị để giải quyết các KN, tranh chấp đất đai nông lâm trường ở Tây Nguyên cần tách riêng cho rõ ràng, khoa học hơn…/.

Lan Anh