Theo Th.S Nguyễn Sỹ Giao, Phó Trưởng Phòng Quản lý Khoa học, Viện Khoa học Thanh tra, bản chất của nguyên tắc APEC là sự thể hiện các quan điểm chính trị, pháp lý và cách xử sự đồng thuận của các quốc gia trong PCTN nói chung và trong việc phòng, chống xung đột lợi ích, làm giàu bất chính nói riêng thông qua việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế công khai tài sản đối với công chức dựa trên nền tảng chung.

Việc thực thi các nguyên tắc APEC đối với Việt Nam có giá trị thể hiện chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và chấp nhận các tiêu chuẩn chung về PCTN, cùng cam kết thúc đẩy thực hiện các tuyên bố về PCTN nói chung và các nguyên tắc APEC nói riêng. Mặc khác, dù Việt Nam có sự khác nhau về mục tiêu phòng chống xung đột lợi ích, làm giàu bất chính hay ngăn chặn hành vi tham nhũng khác nhau mà Việt Nam theo đuổi, nhưng với những nền tảng cơ bản của nguyên tắc APEC đưa ra, hệ thống công khai tài sản thu nhập (TSTN) được xây dựng phải đảm bảo đạt mục tiêu đã được xác định. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống công khai TSTN đối với công chức.

leftcenterrightdel
Th.S Nguyễn Sỹ Giao, Phó Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Viện Khoa học Thanh tra chia sẻ tại Hội thảo nghiệm thu Đề tài khoa học “Thực thi các nguyên tắc APEC vê kê khai tài sản của cán bộ, công chức tại Việt Nam”

Nhìn chung, thực trạng thực thi các nguyên tắc APEC mặc dù còn có hạn chế nhất định trong quy định pháp luật Việt Nam với yêu cầu của các nguyên tắc APEC, nhưng pháp luật Việt Nam về công khai TSTN của cán bộ, công chức đều chứa đựng các thành phần như mục đích, yêu cầu, đối tượng, hình thức công khai, khả năng tiếp cận thông tin...tài sản, thu nhập và trách nhiệm của cơ quan quản lý có thẩm quyền.

Theo pháp luật Việt Nam, mục đích kê khai TSTN để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được TSTN của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch TSTN của người đó, phục vụ cho công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng.

Pháp luật cũng quy định rõ ràng, người có nghĩa vụ kê khai TSTN phải kê khai gồm TSTN thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của bản thân, của vợ hoặc chồng và xong chưa thành niên tại thời điểm hoàn thành Bản kê khai TSTN. Công khai Bản kê khai TSTN của người có chức vụ, quyền hạn hiện nay mới chỉ được giới hạn ở phạm vi hẹp, trong nội bộ cơ quan, đơn vị mà chưa mở rộng việc công khai đến người dân.

Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập nhìn chung ở Việt Nam và các thành viên APEC không có sự khác biệt nhiều về quy định người có nghĩa vụ kê khai TSTN. Các quốc gia tập trung chủ yếu vào những công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý của cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp. Các quốc gia quyết đinhn công chức nào phải kê khai căn cứ vào vị trí việc làm nghĩa là xác định đối tượng theo chức vụ thay vì xác định đối tượng theo chức trách. Việc này hạn chế bỏ lọt các đối tượng nắm giữ chức vụ quyền hạn có nguy cơ tham ngũng cao ngưng lại dẫn đến khả năng bỏ lọt các đối tượng giữ vị trí dễ trục lợi về mặt tài chính

Còn ở Việt Nam, không phải mọi công chức đều phải kê khai tài sản. Việc kê khai TSTN tập trung dành cho các công chức có chức vụ quyền hạn từ phó phòng cấp huyện trở lên và một số vị trí công tác dễ nảy sinh tham nhũng.

Đặc biệt, cho đến nay chưa quy định cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm việc quản lý hồ sơ kê khai TSTN của công chức. Thay vào đó, quy định hiện hành gắn việc quản lý bản kê khai tài sản với công tác quản lý cán bộ.

Về mặt đảm bảo thông tin TSTN được kê khai trung thực và đầy đủ, các nước thành viên APEC đều có cơ chế đảm bảo thông tin được kê khai đầy đủ. Tại Việt Nam vấn đề này không có cơ chế xác thực hay kiểm toán định kỳ thông tin kê khai TSTN công chức, nhưng để đảm bảo tính trung thực, đúng đắn của thông tin về TSTN được công chức kê khai thì đã quy định người có nghĩa vụ kê khai chịu trách ngiệm về việ kê khai và kê khai trung thực, rõ ràng, đầy đủ, đúng thời hạn và những biến động về TSTN kê khai theo quy định của Luật PCTN.

Ngoài ra, các thành viên APEC đều có quy định về chế tài đối với các hành vi vi phạm cung cấp thông tin kê khai TSTN đối với công chức. Chế tài áp dụng đối với ngững hành vi sai phạm nàu thường là từ phạt hành chính, phạt tiền và xử lý hình sự tùy vào tính chất, mức độ hành vi. Còn Việt Nam, hành vi kê khai TSTN giải trình nguồn gốc tăng thêm không trung thực tùy vào tính chất, mức độ, áp dụng hình thức từ khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, bãi nhiệm.

Để nâng cao hiệu quả thực thi các nguyên tắc APEC, ThS Giao đã đưa ra các giải pháp cụ thể như: thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công khai TSTN của công chức và các nội dung của các nguyên tắc APEC; nâng cao trách ngiệm của cơ quan chủ trì triển khai thực thi các nguyên tắc APEC; gắn thực thi các nguyên tắc APEC với quá trình thực thi Công ước  trên cơ sở kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2020...

Đặc biệt, cần có biện pháp hoàn thiện pháp luật về công khai TSTN của công chức. Theo đó, cần thiết lập cơ chế toàn diện nhằm thực hiện kiểm soát có hiệu quả thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn bằng phương thức kiểm soát đồng bộ, khả thi nhằm quản lý tập trung, thống nhất mọi thông tin về thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và pháp hiện xử lý kịp thời những thu nhập có nguồn gốc bất hợp pháp, góp phần ngăn ngừa, phát hiện và đẩy lùi tham nhũng./.

Lan Anh