Với các đặc điểm về địa hình, hướng phơi, độ cao, khí hậu, thủy văn, tác động của con người kết hợp với đặc tính sinh thái của từng loài đã tạo nên sự đa dạng của hệ thực vật Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm. Trong đó nguồn tài nguyên cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài, giá trị kinh tế cũng như giá trị văn hóa. Tuy vậy, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua, cùng với các nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Vườn quốc gia Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêm trọng. Nhiều loài đã được cấp báo trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam như Ba Kích, Đảng Sâm... Vì vậy, bảo vệ tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là các cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng đã trở thành yêu cầu cấp bách nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội hiện nay và tương lai.   

Để hướng tới xây dựng được các biện pháp thích hợp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững cho nguồn tài nguyên cây thuốc, trong thời gian qua Vườn quốc gia Tam Đảo đã tiến hành điều tra và đánh giá hiện trạng của nguồn tài nguyên này. Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài cây thuốc ở Vườn đa dạng về bậc ngành, được phân bố thuộc 5 ngành thực vật là ngành Thông đất, ngành Tháp bút, ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần và ngành Ngọc lan. Đi sâu nghiên cứu thành phần cây thuốc ở Tam Đảo cho thấy rằng số loài cây thuốc phân bố ở các ngành không đồng đều nhau, chủ yếu tập trung ở ngành Ngọc lan với 177 họ (chiếm 92,67%), 607 chi (chiếm 95,55%), 869 loài (chiếm 97,00%), các ngành còn lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.   

leftcenterrightdel
 

Do ngành Ngọc lan có số loài thực vật chiếm đa số trong khu vực nghiên cứu, nên chiếm tỷ lệ lớn các cây được dùng làm thuốc. Bao gồm lớp hai lá mầm và lớp một lá mầm. Cũng qua điều tra, thống kê, tại Vườn có 177 họ thực vật bậc cao có mạch được sử dụng làm thuốc. Trong đó 10 họ giàu loài như họ Cúc có số lượng loài được sử dụng làm thuốc lớn nhất, với 63 loài chiếm 7,25%. Song tổng số loài của 10 họ trên chỉ chiếm 36,95% số loài trong nguồn tài nguyên cây thuốc của Vườn. Như vậy có thể khẳng định thành phần loài cây thuốc tại đây đa dạng ở bậc họ.  

Trong số 896 loài cây thuốc đã biết có tại Vườn quốc gia Tam Đảo, đã xác định được được dạng sống cho 817 loài và lập phổ dạng sống cho các loài này, có 79 loài chưa xác định được dạng sống sẽ không tham gia trong công thức phổ dạng sống. Nguồn tài nguyên cây thuốc của Vườn quốc gia Tam Đảo có mặt của hầu hết tất cả các nhóm dạng sống khác nhau, với tỷ lệ và cấu trúc khác nhau. Nhóm cây chồi trên đất (Ph) có 689 loài, chiếm 84,33% về phổ dạng sống; nhóm cây chồi nửa ẩn (H) có 19 loài, chiếm 2,33%; nhóm cây chồi ẩn (Cr) có 76 loài, chiếm 9,30% và nhóm cây chồi một năm (Th) có 33 loài, chiếm 4,04% phổ dạng sống. Bên cạnh việc nghiên cứu trồng sưu tập các loài cây thuốc quý, Vườn quốc gia Tam Đảo cũng xác định các mối đe dọa, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững các loài cây thuốc hiếm tại đây, góp phần lưu giữ tri thức bản địa, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh tại địa phương; xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống, qua đó phát triển kinh tế hộ, nâng cao đời sống nhân dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo. 

Việc xây dựng mô hình trồng bảo tồn và phát triển một số loài cây thuốc quý hiếm, góp phần bảo tồn tri thức bản địa, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh tại địa phương; xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống, xây dựng mô hình trồng các loài cây thuốc quý hiếm góp phần phát triển kinh tế hộ; góp phần vào công tác bảo tồn và bảo vệ rừng, nâng cao đời sống nhân dân vùng đệm và bảo tồn tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc. Nguồn tài nguyên cây thuốc của Vườn quốc gia Tam Đảo phân bố ở tất cả các sinh cảnh điển hình của vùng núi Tam Đảo và vùng đệm. Nhưng số lượng loài thường gặp ở các sinh cảnh không đồng đều nhau. Các loài cây thuốc sống trong rừng trồng, tái sinh, tự nhiên chiếm số lượng lớn nhất, tới 529 loài (59,04%). Chỉ có 3 loài cây được mang giống từ nơi khác về trồng, chiếm 0,33% là Xuyên bạch chỉ, Bạch chỉ, Xuyên khung. Trong Vườn cũng có rất nhiều loài có thể sống ở hai hay nhiều sinh cảnh khác nhau, thậm chí có loài phân bố rải rác từ trong làng xóm đến tận trên núi cao, như: Cỏ Mần trầu, Cỏ Tranh... Mặt khác, các loài cây thuốc mọc ở trong rừng tự nhiên, ven suối thường đóng vai trò quan trọng trong các bài thuốc của nhân dân vùng đệm và là đối tượng cần quan tâm bảo tồn./.  

Dương Thái