Thực hiện sự phân công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, Thường trực Ủy ban Kinh tế đã họp mở rộng để thẩm tra sơ bộ về nội dung này, trên cơ sở Báo cáo của Chính phủ, tổng hợp ý kiến của một số cơ quan của Quốc hội, ý kiến của các đại biểu tham dự, Thường trực Ủy ban Kinh cho biết, đa số ý kiến nhất trí với đánh giá của Chính phủ về việc bảo đảm thực hiện mục tiêu tổng quát theo Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017.

Đẩy mạnh thực hiện các chính sách với tầm nhìn trung và dài hạn

Một số ý kiến cho rằng, mặc dù kết quả đạt được là khá tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, khu vực nông nghiệp tiếp tục phục hồi nhanh, nhất là thủy sản, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, du lịch tăng cao. Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế một cách thực chất còn chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra, đến nay chưa có chiến lược tổng thể với lộ trình hợp lý, tính gắn kết yếu để giải quyết căn cơ những hạn chế, yếu kém, như: Nợ xấu, bội chi ngân sách và nợ công, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, giải quyết yếu kém của một số doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, chuyển giá, phí sang cơ chế thị trường cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam... Cơ cấu lại các ngành kinh tế ở một số vùng, địa phương triển khai chậm, còn lúng túng, chưa  gắn với thị trường.

Với tình hình tăng trưởng kinh tế khả quan, chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát tốt và các cân đối vĩ mô cơ bản ổn định thì một loạt các giải pháp, chính sách đã đề ra phải được xem xét, điều chỉnh hợp lý hơn. Đây là cơ hội để đẩy mạnh thực hiện các chính sách với tầm nhìn trung và dài hạn như Chương trình cơ cấu lại nền kinh tế, tạo nền tảng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ các ngành có giá trị gia tăng thấp sang ngành có giá trị gia tăng cao hơn, tiếp tục tạo ra thay đổi tích cực về thể chế, môi trường kinh doanh, chủ động điều chỉnh giá các hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước còn quản lý.

Đa số ý kiến đồng tình với kết quả đạt được các chỉ tiêu chủ yếu năm 2017. Một số ý kiến đề nghị cần làm rõ nguyên nhân một số chỉ tiêu có thể đạt mức cao hơn cùng kỳ năm trước là do tình hình năm 2017 nhìn chung thuận lợi hơn 2016.

Về tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP), GDP năm 2017 ước thực hiện sẽ đạt 6,7% với điều kiện tăng trưởng Quý IV đạt mức 7,4%-7,5%. Nhiều ý kiến cho rằng, đây vẫn là thách thức lớn do những nhóm yếu tố tạo đà tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm 2017 gồm tiêu dùng của người dân, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo hiện không còn nhiều dư địa. Bên cạnh đó, rủi ro tiềm ẩn đối với tăng trưởng của ngành nông nghiệp vốn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Ngoài ra, yếu tố cảnh báo về thiên tai, bão, lũ lụt vẫn hiện hữu là thách thức đối với tăng trưởng của khu vực nông nghiệp.

Về tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, các ý kiến đề nghị cần phân tích rõ hiệu quả đầu tư khi chỉ tiêu này trong năm 2017 lên tới 33,42% GDP, cao hơn so với Nghị quyết (31,5% GDP) và tăng 12,6% so với năm 2016. Đây là mức cao so với nhóm nước thu nhập trung bình thấp, một mặt thể hiện tính tích cực nhưng mặt khác thể hiện công tác dự báo khi xây dựng kế hoạch chưa chính xác làm hạn chế trong việc cân đối nguồn lực. Trong khi số chuyển nguồn năm 2016 sang 2017 khá lớn; năm 2017 nguồn vốn đầu tư công chậm cả trong khâu phân bổ cũng như giải ngân nhưng tăng trưởng GDP vẫn đạt kế hoạch thì cần phải giám sát chặt chẽ việc giải ngân nguồn vốn đầu tư công trong những tháng còn lại nhằm bảo đảm việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhà nước cũng như chất lượng dự án, công trình, tránh việc dồn vốn, co kéo giải ngân hết theo kế hoạch năm nhưng không đạt chất lượng, không bảo đảm hiệu quả.

Về một số chỉ tiêu liên quan đến lĩnh vực lao động, giải quyết việc làm, y tế và môi trường, nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại về tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm đối với lao động trẻ, có chuyên môn kỹ thuật vẫn có xu hướng tăng lên đi cùng với hiện tượng thất nghiệp ở độ tuổi 35-40 trong những ngành, nghề thâm dụng lao động; chưa có giải pháp hiệu quả để thực hiện chính sách hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người sử dụng lao động để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nhằm duy trì việc làm cho người lao động.

leftcenterrightdel
Nguồn: VFA Group 

Năm 2018 là năm có ý nghĩa rất quan trọng

Năm 2018 là năm thứ 3 thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020 nên có ý nghĩa rất quan trọng. Bối cảnh thế giới năm 2018 không có nhiều khác biệt so với năm 2017 xét trên các yếu tố: Sự phục hồi kinh tế thế giới vẫn ở mức thấp; giá dầu giao dịch ước dự kiến trung bình khoảng 45-55 đô la Mỹ/thùng; giá cả hàng hóa tăng nhẹ; thu hút FDI dự báo tăng 5-6%. Đồng thời, cần chú ý tới các xu hướng, rủi ro của kinh tế thế giới có thể tác động tới kinh tế nước ta như: Khủng hoảng thừa từ Trung Quốc và nước này chủ yếu tập trung cải cách trong nước làm ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam; xu hướng các nước trên thế giới tăng bảo hộ thương mại, Mỹ tăng lãi suất và cách mạng công nghiệp 4.0 tác động trên nhiều phương diện, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với nước ta.

Năm 2018, các yếu tố liên quan đến tổng cung, dư địa gia tăng các yếu tố đầu vào (lao động, vốn, tài nguyên khoáng sản) để đạt được tăng trưởng cao hơn bị thu hẹp lại đáng kể. Thứ nhất, tốc độ tăng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có xu hướng giảm mạnh (các năm 2013, 2014 và 2015 mức tăng tương ứng là 1,71%, 0,94% và 0,44%, thấp hơn đáng kể so với mức trên 2% của thập niên trước). Thứ hai, yếu tố vốn với tổng đầu tư toàn xã hội khoảng 33-34% là khá cao, không còn nhiều dư địa để tăng vốn đầu tư trong khi khả năng hấp thụ vốn cũng như việc nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực đầu tư vẫn còn nhiều vấn đề. Thứ ba, ngành công nghiệp khai khoáng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, song trong 2 năm trở lại đây tăng trưởng thấp, thậm chí suy giảm mạnh do khai thác ngày càng khó khăn và phụ thuộc nhiều vào biến động giá và cung - cầu trên thị trường thế giới, tồn kho than lớn (11 triệu tấn). Tuy vậy, đây là cơ hội, thời điểm quan trọng để dứt khoát thay đổi chuyển sang mô hình tăng trưởng bớt dựa vào khai thác tài nguyên dù sẽ ảnh hưởng tăng trưởng trong ngắn hạn.

Về phía tổng cầu, dư địa để thúc đẩy tăng trưởng tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào cán cân xuất nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp đó là hiệu quả giải ngân vốn đầu tư phát triển, tuy nhiên hiện đang có nhiều vướng mắc làm chậm quá trình này.

Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan, khả năng điều hành các ràng buộc về ngân sách nhà nước, xử lý các tập đoàn kinh tế, ngân hàng thương mại yếu kém, sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hoặc kể cả những hạn chế, yếu kém tiềm ẩn đã tích tụ nhiều năm như bộ máy hành chính cồng kềnh, thủ tục hành chính còn rườm rà, không hợp lý, chi phí phi chính thức trong giao dịch của doanh nghiệp và người dân, bội chi ngân sách ở mức cao kéo dài dẫn đến nợ công tăng cao, quá trình xử lý nợ xấu còn nhiều thách thức sẽ tạo sức ép tăng lãi suất, lạm phát…/.

Lan Anh