Qua 10 năm triển khai, cuộc vận động đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận, hàng hóa Việt Nam đã được các doanh nghiệp chú trọng cải tiến khoa học kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất quản lý, tăng tỷ lệ nội địa hóa và hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm, từ đó tạo ra một quỹ hàng hóa có chất lượng và mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý. Nhiều sản phẩm Việt Nam đã trở thành niềm tự hào, đã chinh phục được người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Những kết quả đó đã góp phần vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế trong năm 2018, kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời góp phần đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa, nhất là những mặt hàng thiết yếu.

Ngoài ra, hiện tượng sốt giá biến động lớn hầu như không còn trong các dịp Lễ Tết, mùa vụ mua sắm. Cuộc vận động đã góp phần phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam. Tỷ lệ người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt theo đánh giá năm 2010 là 59%, 2014 là 63%, còn trong 6 tháng đầu năm 2019 là 67%. Như vậy là có sự tăng dần theo chiều hướng tốt. Tuy nhiên, hàng Việt còn phải phấn đấu nhiều hơn để khắc phục những yếu điểm của mình.

Về sản xuất, hàng Việt Nam cần phải có chất lượng cao hơn, có giá thành cạnh tranh, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, khơi dậy ý chí sáng tạo đổi mới, sản xuất phải gắn liền với hệ thống phân phối theo chuỗi, vừa quản lý chặt chẽ đầu vào và đầu ra của sản phẩm, góp phần đẩy lùi từng bước hàng giả, hàng nhái trên thị trường, đồng thời có cơ hội giảm giá chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, hạ giá thành sản phẩm. Qua đó, cần phải khắc phục việc năng suất lao động trong nông nghiệp và công nghiệp, thay đổi mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm để theo kịp với nhu cầu của thị trường. Kỷ luật sản xuất còn yếu kém, tùy tiện ở một bộ phận cá nhân và tổ chức sản xuất kinh doanh, vì lợi nhuận mà vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm chất lượng hàng hóa…

leftcenterrightdel
Ở các siêu thị, vẫn luôn nêu cao khẩu hiệu: "Người Việt dùng hàng Việt" (Ảnh: Internet)

Về hệ thống phân phối quốc gia, cả nước có 9.000 chợ, 800 siêu thị, 125 trung tâm thương mại và khoảng 5.000 cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini cộng với hàng chục triệu hộ kinh doanh cá thể trong cả nước. Đây là một lực lượng màng lưới phân phối rất hùng hậu để giải quyết đầu ra cho sản xuất hàng hóa Việt và chiếm lĩnh thị trường nội địa. Điều quan trọng là hệ thống phân phối Việt phải mở cửa thuận tiện cho hàng Việt vào để phục vụ tiêu dùng xã hội. Không ép giá, ép chiết khấu vô lý như một số siêu thị đã làm, tạo điều kiện cho hàng ngoại xâm nhập vào thị trường VN ngày càng nhanh và mạnh hơn. Trong khi hàng hóa sản xuất của chúng ta còn có những mặt yếu kém. Vẫn còn thiếu những tập đoàn bán lẻ lớn đủ sức dẫn dắt thị trường làm ăn tử tế, có trách nhiệm với xã hội và sản xuất tiêu dùng, đủ sức vươn lên cạnh tranh với các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài. Làm được những điều trên chính là giảm bớt sức ép cho hàng hóa Việt Nam phải dựa hẳn vào các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm. Hệ thống phân phối Việt phải liên kết một cách chặt chẽ hơn nữa trong thời gian tới nhằm chia sẻ thông tin thị trường hàng hóa, kinh nghiệm quản lý để bù đắp những phần còn yếu kém, tiếp tục xây dựng thương hiệu bán lẻ một cách bền vững.

Về công tác quản lý nhà nước, cần tạo một môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, công khai minh bạch để các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế yên tâm đầu tư phát triển. Làm tốt công tác chống buôn lậu, sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái, trong đó nhấn mạnh vai trò của chính quyền các cấp ở các địa phương là vô cùng quan trọng.

Tổng kết 10 năm qua cho thấy, một số địa phương còn lơ là, thiếu trách nhiệm trong công tác chống buôn lậu sản xuất kinh doanh hàng giả, cụ thể là sản xuất hàng giả công khai tại địa phương nhiều năm mà chính quyền lại không biết. Theo điều tra số liệu cho thấy, vai trò của chính quyền có suy giảm. Năm 2014 là 67%, năm 2019 chỉ còn 63%, vai trò của cấp Ủy năm 2014 là 68%, năm 2019 chỉ còn 62%, tương tự các vai trò của Mặt trận Tổ Quốc, Hội Phụ nữ các địa phương cũng suy giảm với tỷ lệ tương tự. Trong cuộc vận động này, cần chú ý các chính sách đầu tư một cách cân đối cho các kênh bán lẻ: Kênh truyền thống bao gồm chợ, cửa hàng lẻ, cửa hàng tạp hóa vẫn đảm nhiệm từ 70 - 75% sức mua của thị trường. Tuy nhiên, chợ, cửa hàng ngay tại các thành phố lớn còn xộc xệch, xuống cấp, an toàn phòng chống cháy nổ luôn luôn bị đe dọa, cụ thể là ở Hà Nội có năm không dành chi phí để cải tạo chợ. Nhiều chợ đầu mối, chợ dân sinh ở các địa phương xây lên bị bỏ trống rất lãng phí cho xã hội; hay việc quá quan tâm về xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị mà bỏ quên kênh bán lẻ truyền thống mà nó sẽ còn tồn tại với xã hội tiêu dùng Việt Nam trong nhiều năm tới. Hệ thống chính sách của các bộ ngành đưa ra về xúc tiến thương mại, hỗ trợ vay vốn kinh doanh, phân bổ quỹ đất, vay vốn ngân hàng cho hệ thống bán lẻ Việt còn nhiều vướng mắc, chậm được giải quyết, làm cho cơ hội kinh doanh bị vuột khỏi tay các nhà đầu tư Việt có tâm huyết trong lĩnh vực phát triển hệ thống bán lẻ Việt.

Tất cả những mặt yếu về sản xuất và hệ thống phân phối Việt đã bộc lộ rõ trong tổng kết 10 năm vừa qua. Trong thời gian tới, chúng ta phải coi khẩu hiệu “Người Việt Nam phải chiếm lĩnh thị trường nội địa” là một mệnh lệnh của Quốc gia. Phong trào ưu tiên dùng hàng Việt Nam không chỉ dừng lại ở phong trào mà phải hình thành những hành động cụ thể của các ngành các cấp, các địa phương và mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp, mỗi một người tiêu dùng xã hội cần phải góp sức cho sự nghiệp giữ gìn vị thế của hàng Việt của thị trường nội địa và từng bước vươn ra xuất khẩu. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và các bộ ngành cùng các chính quyền địa phương, tất cả đều vào cuộc, chắc chắn hàng Việt Nam sẽ từng bước “chinh phục người Việt Nam” trong thời gian tới, góp phần vào việc hoàn thành những nhiệm vụ kinh tế xã hội trong năm 2019 và những năm tiếp theo./.

Vũ Vinh Phú