Tiếp cận giáo dục chất lượng vẫn tiếp tục là thách thức đối với trẻ em DTTS

Thứ tư, 18/08/2021 15:38
(ThanhtraVietNam) – Mặc dù, ở giai đoạn 2011-2020, các chính sách về giáo dục cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số (DTTS) đã có nhiều thay đổi, tiến bộ, nhất là đối với trẻ em gái. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức ở các vấn đề, như đường đến trường, hệ thống trường lớp, đội ngũ giáo viên…

Vấn đề giới trong giáo dục – đào tạo cho người DTTS

Mới đây, Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giưới và trao quyền cho phụ nữa (UN Women) đã có báo cáo tóm tắt chính sách các vấn đề giới trong các DTTS ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, đã có sự đảo ngược về khoảng cách giới trong tiếp cận giáo dục giữa trẻ em trai và trẻ em gái DTTS. Trong thời gian trước đây, trẻ em gái DTTS có tỷ lệ đi học đúng tuổi thấp hơn và tỷ lệ ngoài nhà trường (là trẻ em DTTS đang trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng chưa bao giờ đi học hoặc đã thôi học) cao hơn trẻ em trai DTTS. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu thế này dần đảo ngược theo hướng trẻ em gái DTTS có tỷ lệ đi học đúng tuổi cao hơn và tỷ lệ ngoài nhà trường thấp hơn trẻ em trai DTTS.

Tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em gái DTTS cao hơn trẻ em trai DTTS ở tất cả các cấp học, cấp học càng cao thì chênh lệch càng lớn hơn. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, ở bậc tiểu học, khoảng cách chỉ là 0,2 điểm phần trăm; ở cấp THCS thì khoảng cách này đã tăng lên 3,3 điểm phần trăm và cấp THPT là 7,5 điểm phần trăm.

Sau 10 năm kể từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ trẻ em DTTS ngoài nhà trường giảm gần 2 lần, từ 26,4% năm 2009 xuống còn 15,5% năm 2019. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường của 53 DTTS vẫn cao hơn gần 2 lần tỷ lệ này của các nước và gần 3 lần dân tộc Kinh. Tỷ lệ trẻ em trai DTTS ngoài nhà trường cao hơn trẻ em gái, mức chênh lệch là 1,9 điểm phần trăm. Lý do trẻ em DTTS ngoài nhà trường là bỏ học để lao động sớm, kết hôn sớm và khoảng cách tới trường học quá xa.

Nhiều yếu tố thách thức trong tiếp cận giáo dục đối với trẻ em DTTS

Số liệu trong Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy, tỷ lệ huy động trẻ mầm non vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2011-2019 chỉ đạt 56,2% (cả nước đạt 88,5%); tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ chỉ đạt 11,8% (cả nước đạt 25,8%). Trẻ em DTTS yếu tiếng Việt trong khi giáo viên hạn chế về tiếng dân tộc đã gây cản trở việc huy động trẻ và chất lượng giáo dục mần non ở vùng DTTS và miền núi.

Quãng đường đến trường THPT của trẻ em DTTS trung bình là 10,9 km. Trẻ em của 14/53 DTTS phải vượt quãng đường từ 20 – 50 km đường rừng núi nguy hiểm để đến trường. Năm học 2018-2019, toàn quốc có tổng số 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố và 1.097 trường phổ thông dân tộc bán trú ở 28 tỉnh, thành phố, trong đó mới có 15% trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Càng lên vùng núi cao, hệ thống trường, lớp càng phân tán nhỏ lẻ, tỷ lệ kiên cố hóa càng thấp, điểm trường, lớp ghép vẫn tồn tại ở nhiều vùng DTTS và miền núi. Một số địa phương vẫn còn phòng học tạm, hệ thống phòng chức năng thieetus và yếu, công trình vệ sinh thiếu và không đảm bảo, thiếu công trình nước sạch. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú thiếu chỗ ở, bếp nấu ăn, thiếu nước sạch, thiếu công trình vệ sinh.

leftcenterrightdel
Bên trong một lớp học còn nhiều thiếu thốn tại huyện miền núi Đakrông, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Baodantoc.vn)

Đội ngũ giáo viên trẻ thiếu kinh nghiệm thực tế nên hạn chế trong vận động học sinh DTTS đến trường. Giáo viên ít hiểu biết về văn hóa, thiếu kỹ năng ngôn ngữ dân tộc nên hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục. Dạy học bằng tiếng DTTS chưa rộng khắp và hạn chế ở một vài tiếng dân tộc. Từ năm 2011 đến năm 2020, việc dạy tiếng dân tộc được thực hiện chính thức trong trường phổ thông với 06 tiếng dân tộc (Mông, Ê đê, Gia Rai, Ba na, Chăm, Khmer) và triển khai thực hiện tại 22 tỉnh, thành phố với quy mô 756 trường, 5.267 lớp, 174.562 học sinh. Hơn nữa, giáo dục văn hóa dân tộc trong trường phổ thông vùng DTTS và miền núi còn nhiều hạn chế từ việc xây dựng chương trình, tài liệu đến triển khai thực hiện giáo dục đều chưa đạt chất lượng và yêu cầu.

Tỷ lệ biết đọc, biết viết chữ phổ thông của người DTTS mới đạt 80,9% 9nam 86,7%, nữ 75,1%), thấp hơn đáng kể so với người Kinh (nam 97%, nữ 94,6%). Ở nhóm tuổi càng cao thì tỷ lệ người DTTS, đặc biệt nữ DTTS, biết đọc, biết viết chữ phổ thông càng thấp. Kết quả điều tra thu thập thống kê về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS  năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong nhóm từ 35-44 tuổi, có thời 30,3% phụ nữ DTTS không biết đọc, biết viết chữ phổ thông. Đây là rào cản đối với phụ nữ trung tuổi trong tham gia vào các khóa đào tạo nghề, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư được tổ chức thường xuyên ở địa phương.

Hầu hết chính sách giáo dục và giáo dục nghề nghiệp đối với học sinh Kết quả điều tra thu thập thống kê về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy hiện hành đều trung tính về giới. Mặc dù, các chính sách này không trực tiếp đề cập đến nữ hay nam, tuy nhiên có thể làm trầm trọng thêm những bất bình đẳng giới đang tồn tại trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề nghiệp. Cụ thể, Luật Giáo dục (2019) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) đã quy định những biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp cho người DTTS, tuy nhiên hầu hết các quy định này đều “trung tính giới”. Luật Bình đẳng giới (2006) có quy định về đảm bảo bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục song cũng chưa bao quát được những vấn đề giới đặc thù trong lĩnh vực DTTS./.

PV

 

Ý kiến bình luận
Họ và tên *
Email *
Nội dung bình luận *
Xác thực *

Bản quyền thuộc Tạp chí Thanh tra