Khái niệm tham nhũng

Tham nhũng theo cách hiểu truyền thống được Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) định nghĩa là “sự lạm dụng quyền lực được giao vì mục đích cá nhân”. Định nghĩa tham nhũng nói chung và từng loại hình tham nhũng nói riêng của TI cho thấy cách hiểu này vẫn giới hạn ở những loại hình tham nhũng trong khu vực nhà nước (tham nhũng công). Cơ quan kiểm soát ma túy và phòng ngừa tội phạm của Liên Hợp quốc (UNODC) trong Chương trình toàn cầu chống tham nhũng của Liên Hợp quốc (2002) định nghĩa tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực vì tư lợi và bao gồm cả tham nhũng trong khu vực công và khu vực tư.

Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vẫn giữ nguyên khái niệm “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”(1), tuy nhiên, lại mở rộng khái niệm người có chức vụ, quyền hạn. Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn không chỉ bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ lãnh đạo trong khu vực công như trước đây mà còn là “người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức”. Như vậy, việc mở rộng phạm vi khái niệm này chính là tiền đề điều chỉnh tham nhũng thuộc khu vực ngoài nhà nước trong đó có tham nhũng trong kinh doanh, từ đó cho thấy quan điểm về tham nhũng của Việt Nam cũng tiệm cận hơn đối với quan điểm của thế giới về tham nhũng.

Nhận diện tham nhũng trong hoạt động kinh doanh

Theo Báo cáo:“Tham nhũng, hối lộ trong hoạt động của doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp” do Thanh tra Chính phủ thực hiện năm 2013 trong khuôn khổ Dự án GI - UNCAC đã đánh giá thực trạng, mức độ tác động của tham nhũng trong hoạt động của doanh nghiệp trong các mối quan hệ: (1) doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, (2) doanh nghiệp với doanh nghiệp và (3) nội bộ doanh nghiệp.

Cụ thể, hoạt động tham nhũng của doanh nghiệp trong mối quan hệ doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có lẽ là dễ nhận biết nhất, một bên chủ thể trong mối quan hệ này là người có chức vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Động cơ của hoạt động tham nhũng trong trường hợp này cũng hết sức đa dạng. Đó có thể là hành vi hối lộ nhằm mục đích thực hiện nhanh chóng một thủ tục hành chính, bỏ qua một điều kiện nào đó của doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đáp ứng điều kiện kinh doanh, thậm chí hạn chế gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh. Hoạt động tham nhũng trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp phổ biến nhất có thể kể đến như tình trạng “gửi giá” trong đàm phán kinh doanh, “lại quả”, hối lộ để trúng thầu. Đối với hành vi tham nhũng trong nội bộ doanh nghiệp, những hành vi cụ thể được nhận diện là thiếu minh bạch và nhận hối lộ trong tuyển dụng lao động, sắp xếp, bổ nhiệm nhân sự, trong việc sử dụng tài sản, phương tiện của doanh nghiệp vào công việc riêng, gian lận trong các khoản mua sắm, chi tiêu của doanh nghiệp...

Nhận diện đúng các đặc thù của loại tham nhũng này góp phần giúp cơ quan lập pháp xác định mang tính chuyên biệt về hành vi, chủ thể, cơ chế phòng ngừa và cơ chế phát hiện từ đó xây dựng nên những quy định pháp luật mang tính chất phòng, ngừa tham nhũng hiệu quả.

Sự cần thiết phải quy định các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong hoạt động kinh doanh

Tham nhũng trong hoạt động kinh doanh gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải hạch toán phần chi phí dành cho tham nhũng vào chi phí chung, trong nhiều trường hợp phải hợp thức hóa phần chi phí đó. Những tác động tiêu cực của tham nhũng dẫn đến tình trạng doanh nghiệp tự làm suy yếu năng lực cạnh tranh của mình, làm giảm sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp cho rằng dùng các hành vi tham nhũng sẽ đạt được hiệu quả nhanh hơn trong kinh doanh, doanh nghiệp thay vì dùng nguồn lực để dành cho đầu tư nâng cao năng lực khoa học công nghệ sẽ dùng cho các hành vi tham nhũng. Việc tham nhũng trong tuyển dụng nhân sự cũng dẫn đến việc doanh nghiệp không tuyển dụng được những nhân sự có năng lực.

Mặt khác, tham nhũng trong hoạt động kinh doanh làm giảm uy tín của doanh nghiệp, làm méo mó nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp có thể đi “cửa sau” để đạt được những lợi ích kinh tế nhất định, khi đó cạnh tranh không còn phản ánh chính xác năng lực cũng như hiệu quả của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không tập trung vào cạnh tranh lành mạnh kéo theo các hệ lụy xấu cho nền kinh tế, hủy hoại môi trường kinh doanh. Bên cạnh đó, tham nhũng còn làm méo mó thể chế pháp luật, gây hậu quả xấu cho xã hội. Tham nhũng làm chậm và hạn chế quá trình cải cách thể chế, hạn chế công khai minh bạch vì lợi ích nhóm bởi các quy định càng không rõ ràng, cán bộ, công chức mới có cớ để “vòi vĩnh”, gây nhũng nhiễu. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng cũng chính là một động lực để cải cách thể chế, pháp luật.

Nhìn chung, các tác động tiêu cực của tham nhũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường kinh doanh của Việt Nam. Chính vì vậy, muốn cải thiện năng lực cạnh tranh toàn cầu và môi trường kinh doanh, một trong những yêu cầu cần thiết là phải có những biện pháp tích cực hơn nữa để phòng, chống tham nhũng.

Tác động của các biện pháp phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 khuyến khích các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử và cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích, ngăn chặn hành vi tham nhũng và xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, không tham nhũng. Cuộc điều tra trong khuôn khổ sáng kiến “Xây dựng năng lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phòng ngừa tham nhũng” cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít kinh nghiệm xây dựng các biện pháp tự phòng vệ. Đây cũng là dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng vào khả năng bảo vệ hoặc trợ giúp của hệ thống pháp luật, các cơ quan thi hành pháp luật và các hiệp hội kinh doanh trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, cũng như chưa ý thực được việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Trong khi đó, trên thế giới, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô lớn rất coi trọng văn hóa doanh nghiệp và quy tắc ứng xử nội bộ. Đơn cử như PepsiCo, Abbott… những công ty này đều ban hành các bộ quy tắc ứng xử trong đó giúp nhân viên nhận diện về tham nhũng và các hành vi tham nhũng bị cấm. Ngay ở Việt Nam, một số doanh nghiệp cũng nhận thức được tầm quan trọng của các quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc nội bộ để phòng chống tham nhũng như Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk). Đó có lẽ cũng chính là một trong những lý do quan trọng để Vinamilk luôn là một trong các công ty lớn nhất và có tốc độ tăng trưởng ổn nhất thị trường Việt Nam trong những năm qua.

Thực tế cho thấy, mặc dù những quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mới dừng ở mức “khuyến khích”, tuy nhiên sẽ có tác dụng nhất định đối với nhận thức của doanh nghiệp về tầm quan trọng của văn hóa doanh nghiệp và các quy tắc ứng xử trong nội bộ doanh nghiệp. Từ đó, giúp doanh nghiệp thay đổi quan điểm, có những biện pháp tự bảo vệ mình trước các hành vi tham nhũng. Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 còn quy định cơ chế mang tính chất hậu kiểm như thanh tra(2) và trách nhiệm của phản ánh, tố cáo, báo cáo(3) của doanh nghiệp khi phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp. Quy định này như một cơ chế răn đe, buộc các doanh nghiệp có ý thức trong hoạt động phòng, chống tham nhũng để tránh các chế tài, hậu quả bất lợi khi vi phạm.

Tác động của các biện pháp phòng, chống tham nhũng đối với công ty đại chúng và tổ chức tín dụng

Đối với một số doanh nghiệp đặc biệt mà hoạt động có thể gây tác động sâu, rộng đến thị trường như các tổ chức tín dụng, công ty đại chúng, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã đưa đối tượng này vào điều chỉnh và buộc phải áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng cụ thể như sau:

Thứ nhất, phải thực hiện công khai, minh bạch các nội dung về: (i) Việc thực hiện chính sách, pháp luật có nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; (ii) Công tác tổ chức, cán bộ của doanh nghiệp; (iii) Việc thực hiện chính sách, pháp luật khác theo quy định của pháp luật phải công khai. Các nội dung trên được công khai theo một hoặc một số hình thức sau: (i) Công bố tại cuộc họp của doanh nghiệp; (ii) Niêm yết tại trụ sở của doanh nghiệp; (iii) Thông báo bằng văn bản; (iv) Phát hành ấn phẩm; (v) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; (vi) Đưa lên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử; (vii) Tổ chức họp báo; (viii) Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Nghĩa vụ công khai, minh bạch trên được ràng buộc trách nhiệm cho người đứng đầu doanh nghiệp.

Thứ hai, kiểm soát xung đột lợi ích. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bắt buộc người được giao thực hiện nhiệm vụ trong trường hợp biết hoặc buộc phải biết nhiệm vụ được giao có xung đột lợi ích thì phải báo cáo người có thẩm quyền để xem xét, xử lý. Và người có thẩm quyền xem xét, xử lý phải áp dụng một trong các biện pháp để hạn chế xung đột như sau: (i) Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ được giao của người có xung đột lợi ích; (ii) Đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ được giao của người có xung đột lợi ích; (iii) Tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác.

Thứ ba, áp dụng chế độ trách nhiệm của người đứng đầu, theo đó, người đứng đầu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ; Cấp phó của người đứng đầu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách, và người đứng đầu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm liên đới.

Thứ tư, khi vi phạm các quy định về phòng, chống tham nhũng, công ty đại chúng, tổ chức tín dụng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật còn người giữ chức vụ quản lý trong doanh nghiệp có hành vi vi phạm thì bị xử lý theo điều lệ, quy chế hoạt động của doanh nghiệp đó.

Quy định này có hiệu lực sẽ tác động trực tiếp đến khoảng 1.800 công ty đại chúng và 128 tổ chức tín dụng, trong đó sẽ có rất nhiều công ty đại chúng có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, 57 ngân hàng và chi nhánh là 100% vốn của nước ngoài(4).

Các biện pháp phòng, chống tham nhũng được quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 được xem là cần thiết, không can thiệp theo hướng hành chính hóa hoạt động của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để các quy định này thực sự phát huy hiệu quả, cần thiết phải có quy định lượng hóa các hành vi vi phạm để áp dụng các chế tài tương ứng phù hợp. Hay cần điều chỉnh một số các quy định tương ứng của pháp luật liên quan, đơn cử như Khoản 2 Điều 95 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: “Người giữ chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức có hành vi vi phạm thì bị xử lý theo điều lệ, quy chế hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức đó”, tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp hiện hành lại không quy định chế tài áp dụng đối với người giữ chức vụ quản lý trong doanh nghiệp có hành vi tham nhũng là một nội dung bắt buộc phải có của điều lệ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chủ thể chịu trách nhiệm đối với hành vi tham nhũng tại doanh nghiệp đang được quy định chưa thống nhất và chưa thực sự phù hợp. Việc Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 dẫn chiếu đến các quy định trong tổ chức, đơn vị công và sử dụng nguyên cụm từ “người đứng đầu” chưa hợp lý. Bởi tại doanh nghiệp, không có khái niệm “người đứng đầu”. Ngoài ra, trong doanh nghiệp cũng không có khái niệm “người giữ chức vụ quản lý trong doanh nghiệp” như quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mà chỉ có khái niệm “người quản lý doanh nghiệp”. Do đó, cần thiết phải có những điều chỉnh trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để tạo sự thống nhất, đồng thời có các văn bản hướng dẫn để định lượng cụ thể các hành vi vi phạm, tránh gây lúng túng khi áp dụng trên thực tiễn.

Một số kiến nghị hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quy định về biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong hoạt động kinh doanh

Để các quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 phát huy hiệu quả, tương thích với hệ thống quy định pháp luật hiện hành, cần thiết phải có những bước hoàn thiện sau:

Thứ nhất, điều chỉnh Luật Doanh nghiệp theo hướng bổ sung trách nhiệm của người quản lý trong trường hợp xảy ra tham nhũng tại doanh nghiệp là một nội dung bắt buộc phải có trong Điều lệ doanh nghiệp.

Thứ hai, thống nhất thuật ngữ để xác định chủ thể chịu trách nhiệm về việc xảy ra tham nhũng tại doanh nghiệp. Theo đó, cần quy định trách nhiệm cho người quản lý doanh nghiệp mà không chỉ là “người đứng đầu” doanh nghiệp.

Thứ ba, Chính phủ cần ban hành các văn bản hướng dẫn lượng hóa các hành vi tham nhũng để có căn cứ áp dụng chế tài cụ thể và phù hợp.

Thứ tư, Nhà nước có thể sử dụng biện pháp hành chính thông qua việc thiết lập “danh sách đen” những doanh nghiệp có liên quan đến tham nhũng và công khai thông tin trong cộng đồng doanh nghiệp theo kinh nghiệm một số quốc gia và tổ chức quốc tế.

Để hạn chế tình trạng tham nhũng trong hoạt động kinh doanh, song song với việc có các quy định phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, Chính phủ nhất thiết phải thực hiện cải cách hơn nữa thủ tục hành chính, cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết mà Chính phủ đang tiến hành, hoàn thiện Chính phủ điện tử để hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ, công chức với doanh nghiệp; có các chính sách để tăng cường việc thanh toán điện tử để hạn chế việc dùng tiền mặt trong thanh toán, tăng cường tính minh bạch trong các giao dịch của doanh nghiệp…

Thực tế cho thấy, tham nhũng trong khu vực tư nói chung và trong hoạt động kinh doanh nói riêng không chỉ xâm phạm hoạt động đúng đắn của các tổ chức, doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến khu vực công. Đối với tổng thể nền kinh tế và xã hội, tham nhũng gây ra sự phát triển thiếu bền vững trong dài hạn của Việt Nam, làm méo mó mô hình kinh doanh, làm hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp và gây sai lệch động cơ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh ấy, việc ra đời của các quy định về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước là rất cần thiết và kịp thời. Chúng ta kỳ vọng, với những quy định về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước phù hợp với hoàn cảnh hiện hành tại Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực trong thời gian tới sẽ phát huy hiệu quả từ đó cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh tại Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế./.

    TS, LS. Vũ Đặng Hải Yến

Chú thích:

(1) Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;

(2) Điều 81, Điều 82 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;

(3) Khoản 3 Điều 82 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;

(4) http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=407849.