Cụ thể, một số quy định về nội dung, hình thức kết luận giám sát còn trùng lặp, chưa rõ ràng; về trình tự, thủ tục chưa có các biện pháp pháp lý hữu hiệu để thực hiện các kết luận giám sát này; một số hình thức giám sát, kết luận giám sát rất ít được thực hiện trên thực tế hoặc thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao; nhiều quy định pháp luật về hình thức kết luận giám sát của Quốc hội chưa được thực thi hoặc tính khả thi còn thấp, như quy định về việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; quy định Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định để đảm bảo tính khả thi và chính xác của kết luận giám sát; chưa có biện pháp hữu hiệu để theo dõi, kiểm tra việc tiếp thu, giải quyết các kết luận sau giám sát; các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội như: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, bộ máy giúp việc, hệ thống pháp luật… chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động giám sát; và giá trị pháp lý của các hình thức kết luận giám sát chưa được quy định một cách cụ thể, chi tiết, gây không ít khó khăn trong việc thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội. Do đó, để đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội, một số giải pháp được đề ra như sau:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm chính trị trong việc hoàn thiện pháp luật về giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội

Tăng cường hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội là quan điểm nhất quán trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo Nhà nước và bộ máy nhà nước. Vai trò lãnh đạocủa Đảng về tăng cường hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội đã được Đảng nhận thức khá sớm và ngày càng chú trọng. Bằng Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII), hoạt động giám sát của Quốc hội đã được Đảng không ngừng nhấn mạnh: "Làm tốt hơn nữa công tác giám sát của Quốc hội. Tăng cường công tác giám sát tại kỳ họp Quốc hội và hoạt động giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội, xác định trách nhiệm xử lý các kiến nghị của những hoạt động giám sát đó”. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân”. Đặc biệt, Đảng cũng đề xuất cần phải xây dựng cơ chế giám sát trong một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa

Sau Đại hội lần thứ X, XI, và XII của Đảng, hoạt động giám sát của Quốc hội đã được nâng lên một bước đáng kể. Tính hình thức trong hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sátđã giảm đi, năng lực giám sát của đại biểu Quốc hội đã được khẳng định thông qua các hoạt động giám sát như chất vấn, xét báo cáo. Phương pháp giám sát cũng được thực hiện khoa học và mang lại hiệu quả hơn so với những năm trước đây. Sự chuyển biến tích cực trong hoạt động giám sát của Quốc hội thời kỳ này bước đầu đã được nhân dân đánh giá và tin tưởng. Để có được kết quả đó, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã có những nỗ lực đổi mới không ngừng. Tiêu biểu đó là việc sửa đổi Hiến pháp 1992 năm 2001 và Hiến pháp 2013 với việc bổ sung hình thức bỏ phiếu tín nhiệm là một trong những công cụ giám sát và hậu quả pháp lý có hiệu quả của Quốc hội, tiếp đến là việc sửa đổiLuật Tổ chức Quốc hội năm 2015. Đây được xem là một dấu mốc quan trọng cho việc quán triệt đường lối lãnh đạo của Đảng trong việc tăng cường hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sátcủa Quốc hội.

Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò kết luận giám sát của Quốc hội

          Cần có cách tiếp cận rõ ràng về vai trò, vị trí và sự cần thiết của kết luận giám sát và nghị quyết, luật có thể khác nhau về tính chất, phạm vi điều chỉnh. Xác định trách nhiệm của Quốc hội trong ban hành kết luận giám sát.Việc xác lập những nhận thức mới về vai trò của kết luận giám sát kéo theo những đòi hỏi trong việc xác định đúng trách nhiệm của QH và chủ thể khác thực thi kết luận giám sát.

Cần phải nâng cao nhận thức của cả chủ thể giám sát và đối tượng giám sát trong việc đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội. Trước hết là nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với thực thi các kết luận giám sát. Sau đó là thay đổi nhận thức về vị trí, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát. Khi ban hành các kết luận giám sát còn chưa quan tâm đến việc thực thi kết luận giám sát đó của mình như thế nào? Trách nhiệm pháp lý trong kết luận giám sát chưa rõ ràng, chỉ là những nội dung chung chung, mang tính định hướng. Mặt khác, thay đổi nhận thức của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, các cơ quan thông tấn báo chí, dư luận, công luận và người dân trong việc cùng giám sát, theo dõi, thông tin, phản ánh khách quan đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cùng vào cuộc đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội.

Hoàn thiện pháp luật về kết luận giám sát

Thứ nhất, để tăng cường vai trò của Quốc hội trong lĩnh vực giám sát thì điều quan trọng đầu tiên là khắc phục được những hạn chế đó theo hướng phải làm rõ trong Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội nhằm phân biệt được hoạt động giám sát và việc thực thi các kết luận giám sát, để khẳng định vị trí của Quốc hội trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước nói chung.

Thứ hai,bổ sung các quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể giám sát, đối tượng chịu sự giám sát và đặc biệt là chủ thể có trách nhiệm thực thi kết luận giám sát.

Thứ ba, hiện thực hóa một số quy trình, thủ tục giám sát vàthực thi kết luận giám sát. Thực tế thời gian qua cho thấy cần quy định cụ thể những vấn đề như sau:

Hạn chế đến mức thấp nhất việc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao cho Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội tiến hành giám sát một vụ việc cụ thể nào đó; nếu thấy cần giám sát việc giải quyết một việc cụ thể thì Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trực tiếp thành lập Đoàn giám sát theo quy định tại Điều 23 và Điều 24 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội;

Trong trường hợp có sự không thống nhất giữa báo cáo kết quả giám sát với kết luận của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì cơ quan tiến hành giám sát (Hội đồng Dân tộc hay một ủy ban nào đó của Quốc hội) được báo cáo với Quốc hội để Quốc hội xem xét, quyết định;

Bổ sung thêm quy định về thủ tục tiến hành điều trần, giải trình, báo cáo công tác tại các cơ quan của Quốc hội, tạo điều kiện cho việc xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực thi kết luận giám sát.

Thứ tư,quy định cụ thể các chế tài bảo đảm hiệu lực của giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội.

Hoàn thiện về nội dung hình thức và trình tự, thủ tục ban hành kết luận giám sát

Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết, kết luận giám sát; Đảm bảo sự chuyên nghiệp trong giai đoạn soạn thảo kết luận giám sát; Hoàn thiện quy trình thẩm tra dự thảo báo cáo,kết luận giám sát.Thêm vào đó, chất lượng thẩm tra dự thảo kết luận giám sát phụ thuộc rất nhiều vào độ tin cậy của những thông tin, dữ liệu thực tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của kết luận giám sát; Xác định rõ cơ sở pháp lý cho hoạt động ban hành kết luận giám sát dưới hình thức nghị quyết cá biệt và các hình thức khác.

Đổi mới quy trình, thủ tục giám sát việc thực hiện kết luận giám sát

Đối với quy trình thủ tục xem xét báo cáo thực hiện kết luận giám sát: Thông qua việc xem xét thực hiện kết luận giám sát, QH đánh giá mức độ, kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; trách nhiệm của người đứng đầu; xác định mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đối với từng lĩnh vực; các giải pháp để thực hiện; trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân; trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kết luận giám sát. Chính vì vậy, cần phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định về quy trình giám sát việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội.

Đối với quy trình, thủ tục chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn đối với việc tổ chức thực hiện nghị quyết, kết luận giám sát về chất vấn: Người đã trả lời chất vấn phải có trách nhiệm gửi báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của QH về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại các kỳ họp trước đến đại biểu QH và UBTVQH. Tuy nhiên, Luật Hoạt động giám sát năm 2015 vẫn chỉ dừng lại ở việc quy định trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kết luận giám sát về chất vấn mà chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm của người bị chất vấn đối với những vấn đề đặt ra nếu không khắc phục được những tồn tại, hạn chế đối với lĩnh vực mình phụ trách.

Đối với quy trình, thủ tục ban hành kết luận giám sát đối với hình thức giám sát chuyên đề: Các giải pháp của các chủ thể tổ chức thực hiện nghị quyết, kết luận giám sát cần phải được giám sát chặt chẽ để có thể tìm ra nguyên nhân và khắc phục ngay những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết, kết luận giám sát.

Tăng cường các yếu tố bảo đảm thi hành kết luận giám sát của Quốc hội

Thứ nhất, trong nhiều khóa Quốc hội thì Đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương chiếm gần 20% tổng số Đại biểu Quốc hội. Một đại biểu hiện nay gánh trên vai hai gánh nặng: Vừa đại diện trung ương, vừa đại diện cho địa phương – điều này là quá khó khăn và gần như không thể thực hiện được. Trước mắt, nên tăng số lượng đại biểu chuyên trách ở trung ương sao cho tỷ lệ này cũng phải mang tính áp đảo.

Thứ hai, phải nâng cao động lực giám sát cho đại biểu Quốc hội, đảm bảo tính độc lập trong hoạt động giám sát. Vấn đề xung đột lợi ích “trên - dưới” khi mà các đại biểu phải giám sát cấp trên theo ngạch chuyên môn hoặc hành chính của mình một khi không được giải quyết thì sẽ khó mang lại hiệu quả. Không phải ai cũng có đủ bản lĩnh để chất vấn lãnh đạo hoặc người nắm sinh mạng chính trị của mình. Việc nhiều đại biểu kiêm nhiệm với những ràng buộc hành chính sẽ làm giảm tính độc lập trong giám sát của đại biểu, gây nên tâm lý e ngại, né tránh ảnh hưởng rất lớn đến việc thực thi kết luận giám sát.

Thứ ba, cần có sự đầu tư thích đáng vào việc bồi dưỡng kỹ năng giám sát, theo dõi việc thực hiện các kết luận giám sát, phản biện cho đại biểu. Các kỹ năng giám sát cơ bản bao gồm: kỹ năng phát biểu và thảo luận, kỹ năng biểu quyết, kỹ năng chất vấn, kỹ năng vận động, đàm phán hay thoả thuận; kỹ năng phân tích và đánh giá thông tin; kỹ năng hình thành kiến nghị và trình bày kiến nghị…

Thứ tư, đại biểu Quốc hội còn cần được bảo đảm những điều kiện cần thiết, như bộ phận tham mưu giúp việc, chuyên gia, nguồn cung cấp thông tin, kinh phí để thực hiện hoạt động giám sát và đảm bảo thực thi kết luận giám sát. Hiện nay, nguồn kinh phí để đảm bảo cho việc thực thi các kết luận giám sát còn chưa được quan tâm đúng mức, ví dụ như: kinh phí giám sát lại, kinh phí thuê chuyên gia, kinh phí thu thập thông tin liên quan đến việc thực hiện kết luận giám sát của các đối tượng chịu sự giám sát còn nhiều hạn chế, bất cập.

Thứ 5, tăng cường hiệu quả sử dụng các công cụ giám sát trong việc đảm bảo thực thi kết luận giám sát.Công cụ giám sát ở các nước khác nhau có những điểm khác nhau tuỳ thuộc vào chính thể của nhà nước đó và những đặc điểm riêng trong hệ thống chính trị của từng quốc gia. Những công cụ giám sát được Quốc hội các nước áp dụng phổ biến là: Thảo luận, biểu quyết, chất vấn; đề xuất kiến nghị; luận tội, điều trần, điều tra, thanh tra; bỏ phiếu bất tín nhiệm...

Thành lập và phát huy hiệu quả hoạt động của các cơ quan hỗ trợ hoạt động giám sát và đảm bảo thực thi kết luận giám sát

Tăng số lượng đại biểu ở các cơ quan của Quốc hội,số lượng thành viên Hội đồng dân tộc và thành viên các Uỷ ban còn ít, số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm còn cao... Do vậy, cùng với việc xây dựng một cơ chế pháp lý, tổ chức phù hợp thì việc tăng cường các điều kiện đảm bảo, các hình thức hỗ trợ hoạt động giám sát cũng là một vấn đề quan trọng đảm bảo hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội. Với tính chất hoạt động đặc thù của mình, Quốc hội không thể tự mình giám sát tất cả mọi công việc, nếu không có sự trợ giúp của các cơ quan chuyên môn của Quốc hội và cơ quan có quyền lực đặc biệt.

Tăng cường chất lượng các dịch vụ thông tin và nghiên cứu phục vụ hoạt động giám sát, thực thi kết luận của Quốc hội  

Tăng cường công tác cung cấp thông tin chiều sâu, thông tin khoa học, thông tin trong quản lý cho các Đại biểu Quốc hội. Đặc biệt là thông tin về việc thực thi các kết luận giám sát của các đối tượng bị giám sát.

Ở nhiều nước, thông tin của Quốc hội được hình thành theo một kênh độc lập với thông tin của cơ quan hành pháp - Chính phủ và cơ quan tư pháp - Toà án. Thông tin phục vụ Quốc hội phải mang tính khách quan, kịp thời và cập nhật để hỗ trợ cho việc thực hiện các chức năng, nhất là chức năng giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội. 

Phát huy vai trò của các Hiệp hội và các cơ quan thông tấn báo chí trong hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám của Quốc hội

Thực tế đã minh chứng, các cơ quan thông tấn, báo chí có vai trò rất quan trọng trong hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Đây chính là cầu nối giữa Quốc hội, giữa các vị đại biểu Quốc hội với cử tri và nhân dân cả nước, là kênh thông tin chuyển tải các hoạt động giám sát, nội dung kết luận giám sát của Quốc hội đến với nhân dân và qua đó để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với chính cơ quan đại biểu do mình trực tiếp bầu ra. Việc tăng cường mối quan hệ hai chiều giữa Quốc hội, đại biểu Quốc hội và các phương tiện thông tin đại chúng cũng là yếu tố góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội. Vì ngoài sự giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn của Quốc hội, việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội còn cần phải có sự tham gia, trợ giúp của nhiều công cụ, phương tiện khác, đặc biệt là của các cơ quan truyền thông, báo chí.Nhờ vậy, Quốc hội phần nào biết được các cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát thực hiện các kết luận giám sát của mình đến đâu vànhư thế nào. Ngoài ra, sự tham gia (đặc biệt là trong các phiên điều trần tại ủy ban) của các hiệp hội, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp cũng góp phần tăng cường hiệu quả giám sát nếu như các tổ chức nói trên xuất phát từ quyền lợi của giai tầng mà mình đại diện cung cấp thông tin, nêu chính kiến, phát hiện những sai phạm của cơ quan nhà nước... giúp Quốc hội đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của mình./.

NCS. Nguyễn Xuân Thủy

 Học viện Cảnh sát nhân dân

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Thông tin và truyền thông (2016), Quốc hội Việt Nam – 70 năm hình thành và phát triển, Tài liệu tuyên truyền ở cơ sở của Bộ Thông tin và truyền thông.

2. TS. Phạm Lan Dung (2011), Trưởng nhóm nghiên cứu: Cơ sở lý luận về vai trò giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Nguyễn Sĩ Dũng (2004) – chủ biên, Quyền giám sát của Quốc hội – Nội dung và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, NXB. Tư pháp, Hà Nội.

4. Trương Thị Hồng Hà (2007), Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội.

5. Lê Văn Hòe (2004), “Giám sát của Quốc hội và vấn đề đảm bảo hiệu quả giám sát”, Kỷ yếu hội thảo về tổ chức họat động giám sát của Quốc hội, Hà Nội.

6. Phạm Ngọc Kỳ (1996), Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 18-22, 37-39.

7. TS. Bùi Sỹ Lợi Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội (2013), Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội (Chuyên đề) Cổng thông tin điện tử Quốc hội.

8. Trần Tuyết Mai (2009), Luận án tiến sĩ: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam.

9. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, năm 2014.