Cung cấp các DVCTT là nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, triển khai Chính phủ điện tử. Việc triển khai cung ứng DVC trên môi trường mạng không những tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp, mà còn góp phần làm giảm áp lực giấy tờ công việc lên chính các cơ quan quản lý Nhà nước. Bởi lẽ, việc cung cấp thông tin, DVCTT mức độ cao, trên diện rộng cho người dân và doanh nghiệp, sẽ làm cho hoạt động của cơ quan Nhà nước minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, chính sách DVCTT đang thiếu, chỉ được lồng ghép vào trong chính sách phát triển Chính phủ điện tử với điểm nhấn đáng lưu ý là Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước.

Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết đề cập đến những vấn đề đặt ra trong xây dựng chính sách DVCTT ở Việt Nam trong thời gian tới nhằm khắc phục tình trạng thiếu tính hệ thống, hiệu lực không cao, khó kiểm soát; tổ chức triển khai thực hiện mang tính tự phát, không thống nhất, mạnh ai chủ thể đó làm, không có chiến lược tổng quát, còn mang tính hình thức, đối phó, phong trào trong triển khai DVCTT.

Hiện nay, việc cung cấp DVCTT ở nhiều bộ, ngành, địa phương mới dừng lại ở mức lập phương án triển khai. Trong đó, nhiều cơ quan cho biết còn vướng mắc, khó khăn trong một số khâu. Cụ thể: Vấn đề hệ thống hóa các hồ sơ, quy trình xử lý thủ tục hành chính (do giấy tờ, thủ tục nhiều, không có mẫu biểu điện tử); số lượng DVC nhiều trong khi kinh phí triển khai hạn hẹp; thiếu hướng dẫn trong việc thuê dịch vụ công nghệ thông tin để cung cấp DVCTT.

Nguyên nhân việc triển khai các DVCTT chưa thực sự hiệu quả trong thời gian qua là do còn thiếu hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ, toàn diện. Ví dụ: Chính sách lựa chọn DVC thực sự cần thiết để cung ứng trực tuyến (dịch vụ có nhu cầu giao dịch nhiều, đơn giản hóa thủ tục, đảm bảo tính ổn định của thủ tục); chính sách cho công tác tuyên truyền nhằm thay đổi thói quen, nâng cao nhận thức của người dân, tổ chức đối với các DVC cung ứng trực tuyến, người dân biết và hiểu rõ những tiện ích của các dịch vụ này.

Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020 đã được xác định là nâng cao chất lượng phục vụ và tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước thông qua đẩy mạnh cung cấp DVCTT cho người dân, tổ chức; cung cấp các DVC cơ bản trực tuyến mức độ 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ cá nhân và tổ chức mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau, ứng dụng công nghệ thông tin để giảm thời gian, số lần trong một năm cá nhân, tổ chức phải đến trực tiếp cơ quan Nhà nước thực hiện các thủ tục hành chính.

 

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa - Internet

Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2016 - 2020 là 30% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến tại mức độ 4; 95% hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được nộp qua mạng; 90% số doanh nghiệp thực hiện nộp thuế qua mạng; 90% cơ quan, tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong việc thực hiện thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội; tỷ lệ cấp đăng ký doanh nghiệp qua mạng đạt 20%; tỷ lệ cấp giấy chứng nhận đầu tư qua mạng đạt 10%(1). “Phấn đấu đến hết năm 2016, Việt Nam nằm trong nhóm 4 và đến hết năm 2017 nằm trong nhóm 3 các quốc gia đứng đầu ASEAN và chỉ số DVCTT và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc”(2).

Với những dự báo khả năng, xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin, yêu cầu hội nhập; minh bạch, giải trình, chuẩn quốc tế, chất lượng DVC nên việc chuyển sang hình thức cung ứng DVCTT là tất yếu. Do đó, nghiên cứu hoàn thiện chính sách DVCTT đang đặt ra như một nhu cầu khách quan của thực tiễn hiện nay.

Để DVCTT phát triển ở mức độ hoàn thiện nhất (mức độ 4), phải xây dựng được một nền tảng chính sách DVCTT hoàn thiện. Xuất phát từ yêu cầu chung khi muốn xây dựng được một chính sách tốt “cần phải tách biệt giữa chức năng làm chính sách với chức năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết căn bản những vướng mắc trong thực thi chính sách pháp luật ở nước ta” và cần thiết hơn nữa là “tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách… đổi mới các quy định chính thức đảm bảo… trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách công”(3).

Trên cơ sở đó, những yêu cầu trong xây dựng phương án chính sách và đưa vào áp dụng để đánh giá, lựa chọn những quyết định nào là phù hợp nhất để giải quyết vấn đề thực tiễn về triển khai DVCTT ở Việt Nam là chính sách DVCTT phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; coi người dân, doanh nghiệp là trung tâm để hoạch định, xây dựng và ban hành chính sách, bao gồm nhóm chính sách cơ bản sau đây: Chính sách phát triển hạ tầng công nghệ; chính sách nguồn nhân lực về công nghệ thông tin; chính sách tạo môi trường pháp lý; chính sách đảm bảo an toàn, an ninh mạng; chính sách về kinh tế - xã hội...

Chúng ta cần đến một hệ thống chính sách đồng bộ để phát triển, với những công cụ sắc bén, có hiệu quả triển khai trong thực tiễn. Chính sách đó phải đảm bảo dung hòa, đáp ứng lợi ích của tất cả các nhóm chủ thể liên quan. Với Chính phủ (Nhà nước): Công chức hoàn thành nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả, năng suất lao động; giải quyết khó khăn của nền công vụ, đạt được mục tiêu của cải cách hành chính (cải cách thủ tục hành chính, thể chế hành chính...). Với vấn đề tinh giản biên chế (có thể dung hòa bằng cách cải cách tiền lương thông qua việc tăng phí dịch vụ cung ứng - điều chỉnh trong giới hạn chấp nhận được). Đổi mới quản lý DVC: DVC cung ứng có thu chuyển thành tự chủ (quy định cho phép các đơn vị được giữ lại tỷ lệ phí để phân phối nội bộ) sẽ nhận được sự ủng hộ của công chức vì ổn định đời sống, chi phí.... Mang lại lợi ích kinh tế: Giải quyết vấn đề giảm nguồn nhân lực thì phải xây dựng kế hoạch tổ chức đào tạo lại sau đó bố trí lại nhân lực phù hợp...

Từ những vấn đề đặt ra nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách DVCTT ở Việt Nam thời gian tới, bao gồm:

Một là, cần xác định chính xác vấn đề chính sách DVCTT hiện nay như thiếu DVCTT trong những lĩnh vực mà chủ thể thụ hưởng (người dân, doanh nghiệp) do thiếu hạ tầng, công nghệ thông tin, nguồn lực thiếu và yếu, điều kiện kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu để chủ thể có thể thụ hưởng DVCTT; thiếu các công cụ, giải pháp, thể chế chính sách để dung hòa lợi ích giữa các nhóm chủ thểliên quan; cơ chế dành cho mọi đối tượng được tiếp cận (người khuyết tật, người nghèo...); minh bạch, công khai (Luật Tiếp cận thông tin); tâm lý của chủ thể cung ứng DVCTT ngại đưa lên môi trường mạng vì ảnh hưởng đến lợi ích; cơ chế xác định DVC nào cần cung ứng theo hình thức trực tuyến; vấn đề hoạt động: Công nghệ; hoạch định; chủ trương, của Đảng.

Hai là, xác định giải pháp chính sách và lựa chọn các công cụ chính sách DVCTT thông qua việc triển khai lựa chọn các giải pháp tương ứng với đa dạng các công cụ chính sách như các quy phạm pháp luật; các chương trình, đề án, kế hoạch; các công cụ kinh tế, các công cụ tuyên truyền, giáo dục, phổ biến... hướng đến nội dung nguồn lực chính sách, nhân lực, tài chính; xây dựng năng lực thể chế; nâng cao nhận thức; xây dựng chính sách liên quan đến giải quyết vấn đề dung hòa lợi ích giữa các nhóm chủ thể; đẩy mạnh tổ chức thực hiện (đảm bảo nhân lực, vật lực và thời gian); tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hoạch định chính sách DVCTT; xây dựng hệ thống giám sát (theo dõi thực hiện chính sách) cụ thể thực hiện giám sát chính sách.

Ba là, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách DVCTT như: Yếu tố bên ngoài (Đảng lãnh đạo; văn hóa chính trị; Hiến pháp; pháp luật quốc tế, quy phạm quốc gia, chế độ kinh tế...); yếu tố bên trong như năng lực, thẩm quyền chủ thể ban hành chính sách DVCTT. Trên cơ sở đó xây dựng và hoàn thiện chính sách DVCTT đảm bảo DVCTT phải là một dịch vụ dành cho người sử dụng cuối cùng và phát triển theo hướng phục vụ nhu cầu./.

Ths. Quách Thị Minh Phượng

 Ths. Phạm Văn Phong

Học viện Chính trị khu vực II